- 1. Thuyết phục người làm chứng để họ có thiện chí khai báo đúng sự thật
- 2. Sử dụng những mâu thuẫn trong lời khai của người làm chứng để vạch trần thái độ khai báo không thiện chí của họ
- 3. Sử dụng tài liệu, chứng cứ để vạch trần mâu thuẫn buộc người ỉàm chứng phải khai báo đúng sự thật
- 4. Tác động tâm lý nhằm trực tiếp khắc phục cách khai dối và lấy được lời khai thật
- 5. Lời khai của người làm chứng được sử dụng như thế nào?
Trả lời:
Chiến thuật lấy lời khai người làm chứng rất đa dạng, phong phú. Thực tiễn điều tra chứng minh rằng, hiệu quả công tác lấy lời khai người làm chứng phụ thuộc rất lớn vào việc điều tra viên sử dụng những chiến thuật nào và sử dụng như thế nào các chiến thuật đó trong từng hoàn cảnh cụ thể. Dưới đây là một số chiến thuật cơ bản thường được sử dụng phổ biến trong hoạt động lấy lời khai người làm chứng.
1. Thuyết phục người làm chứng để họ có thiện chí khai báo đúng sự thật
Người làm chứng về cơ bản không có lợi ích phải giải quyết trong quá trình điều ha như bị can và người bị hại. Họ tham gia vào quá trình điều tra với tinh thần trách nhiệm công dân và với ý thức đấu tranh vạch ưần tội phạm trước pháp luật. Tuy nhiên, sự hiểu biết về pháp luật; điều kiện, hoàn cảnh của từng người làm chứng (về vật chất, vê nghề nghiệp, về tinh thần...); những mối quan hệ của họ đối với các chủ thể khác của quá trình điều tra hình sự... có thể làm hạn chế đến thiện chí, nhiệt tình, khả năng tham gia vào quá trình điều tra của họ. Do đó, thuyết phục là một trong những chiến thuật cơ bản để khắc phục các yếu tố cản ưở, làm tăng những động lực thúc đẩy người làm chứng nhiệt tình tham gia vào quá trình điều tra.
Thuyết phục người làm chứng theo nghĩa rộng là tổng thể những hoạt động của cán bộ điều tra, từ việc tạo ra những điều kiện thuận lợi để thiết lập giao tiếp tâm lý, đến những nội dung, phương pháp giải thích; những cử chỉ, hoạt động, xử sự của cán bộ điều tra trong quá trình lấy lời khai; những nỗ lực nhằm giảm bớt khó khăn, cản ữở (về vật chất, về công việc, về tinh thần, về những ràng buộc của các mối quan hệ) đối với người làm chứng.
Cán bộ lấy lời khai phải chuẩn bị chu đáo nội dung, phương pháp thuyết phục; phải biết huy động tổng hợp các yếu tố, các điều kiện của bản thân, của các cơ quan điều tra, các chính quyền địa phương hay đơn vị nơi người làm chứng công tác; đồng thời phải nghiên cứu nắm vững những điều kiện, hoàn cảnh, đặc điểm tâm lý và những đặc điểm nhân thân khác của người làm chứng có liên quan đến chiến thuật thuyết phục họ.
Hướng chính của thuyết phục là tác động làm thay đổi nhận thức, làm thay đổi trạng thái tâm lý, kích thích những yếu tố tích cực của người làm chứng để họ tham gia vào quá trình điều tra với thiện chí khai đúng, khai hết những gì mình biết về vụ án.
2. Sử dụng những mâu thuẫn trong lời khai của người làm chứng để vạch trần thái độ khai báo không thiện chí của họ
Mâu thuẫn xuất hiện trong lời khai của ngưởi làm chứng có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Chẳng hạn do trí nhớ kếm, do trình bày thiếu mạch lạc, lầm lẫn, hoặc do hiểu sái bản chất sự kiện... Một trong những nguyên nhân quan trọng làm xuất hiện mâu thuẫn là do người làm chứng cố tình khai dối vì nhiều lý do khác nhau (sợ liên luỵ, sợ thù oán, sĩ diện, vì tình cảm...). Mỗi loại nguyên nhân làm xuất hiện mâu thuẫn cần có phương pháp giải quyết riêng. Trường hợp người làm chứng khai dối làm xuất hiện mâu thuẫn trong lời khai thì có thể vạch trần mâu thuẫn đó để họ từ bỏ khai báo gian dối.
Muốn vậy cần phải:
- Phải hỏi thật sâu, thật kỹ từng chi tiết, thời gian cụ thể của sự việc họ trình bày.
- Có thể hỏi lặp lại nhiều lần cùng một vấn đề nhưng ở những thời gian và điều kiện khác nhau để làm cho các mâu thuẫn xuất hiện trong lời khai.
- Nếu thật cần thiết thì yêu cầu ký xác nhận vào các câu trả lời để khi vạch trần mâu thuẫn, người làm chứng không thể chối cãi được.
- Nên đưa ra trước những câu hỏi về các mâu thuẫn ít đụng chạm đến quyền lợi của người làm chứng, sau đó dần dần chuyển sang những mâu thuẫn nghiêm trọng hơn, có ý nghĩa vạch trần lời khai dối của người làm chứng. Đồng thời với quá trình này là thuyết phục, giáo dục, động viên người làm chứng khai đúng sự thật.
3. Sử dụng tài liệu, chứng cứ để vạch trần mâu thuẫn buộc người ỉàm chứng phải khai báo đúng sự thật
Mâu thuẫn xuất hiện là do người làm chứng khai dối, vì những lý do khác nhau như đã trình bày trong chiến thuật thứ hai. Với trường hợp này ta cần làm như sau:
- Khi thấy lời khai của người làm chứng mâu thuẫn với tài liệu, chứng cứ, cán bộ lấy lời khai nên đặt câu hỏi sâu về vấn đề đó để người làm chứng trình bày nhằm củng cố một lần nữa nội dung lời khai của họ. Nếu họ vẫn khẳng định nội dung lời khai đó là đúng thì đưa ra những tài liệu, những chứng cứ hợp lý rồi yêu cầu họ giải thích.
- Khi sử dụng tài liệu, chứng cứ cần chú ý đến việc đặt câu hỏi, sao cho các câu hỏi đặt ra theo một logic mang tính “trói buộc” được người làm chứng, làm cho câu trả lời cuối cùng của họ phải đúng sự thật.
- Cần kết hợp chặt chẽ giữa thuyết phục, giáo dục với sử dụng tài liệu, chứng cứ vạch trần mâu thuẫn bong lời khai, làm cho họ thấy không thể giấu diếm sự thật được.
- Nếu xét thấy cần thiết thì có thể cho người làm chứng đó đối chất với người làm chứng khác hay bị can về vấn đề họ khai dối.
4. Tác động tâm lý nhằm trực tiếp khắc phục cách khai dối và lấy được lời khai thật
Trong lấy lời khai của người làm chứng, việc tác động tâm lý để khắc phục cách khai dối và lấy được lời khai thật cần xác định là chiến thuật lấy lời khai quan bọng và cần thiết.
Tác động tâm lý bong lấy lời khai của người làm chứng là quá trình điều tra viên huy động, sử dụng các kích thích cần thiết để tác động đến tâm lý người làm chứng, điều chỉnh thái độ và hành động khai báo của họ nhằm thu thập được các thông tin cần thiết của vụ án.
Chiến thuật tác động tâm lý trong lấy lời khai của người làm chứng được thực hiện bằng các hình thức sau:
- Tác động tình cảm: Là cách thức mà trong đó điều tra viên dùng những tác động khác nhau để khơi dậy ở người làm chứng các tình cảm cần thiết hoặc lợi dụng đặc điểm tình cảm của người làm chứng nhằm điều khiển hành vi của họ.
Đối với người làm chửng, việc nghiên cứu nắm chắc những nhu cầu tình cảm hiện có và huy động, sử dụng các nguồn tình cảm (tình cảm gia đình, bạn bè), các phương tiện tác động tình cảm được coi là những yêu cầu quan trọng của chiến thuật.
- Phân tích, thuyết phục: Là chiến thuật tác động mà ở đó điều tra viên sử dụng lý lẽ để lập luận, phân tích, vạch ra đúng - sai, phải - trái, thiệt - hơn... để tác động vào nhận thức của người làm chứng, nhằm làm cho người làm chửng thay đổi quan niệm cũ, hình thành quan điểm mới trong nhận thức và khai báo theo chiều hướng có lợi cho cuộc điều tra.
Chiến thuật tác động này chủ yếu được áp dụng trong trường hợp người làm chứng hoàn toàn không muốn khai báo hoặc khai báo một cách chiếu lệ về sự việc phạm tội xảy ra mà họ đã tri giác.
Đương nhiên, để thực hiện thành công chiến thuật tác động này đòi hỏi điều tra viên phải nghiên cứu, hiểu rõ những động cơ lý trí đang là chướng ngại tâm lý kìm hãm hoạt động khai báo đúng sự thật của người làm chứng và trong quá trình tác động đến người làm chứng, điều tra viên cần phân tích, lý giải các vấn đề một cách mạch lạc với phong thái đàng hoàng, đĩnh đạc, sẵn sàng lắng nghe, không để tình cảm bột phát lấn át hoặc chế ngự. Bản chất của phân tích, thuyết phục vừa là tác động vào nhận thức lý trí, vừa là tác động vào tình cảm của người làm chứng nên những thông tin đưa ra phải chính xác, có cơ sở tin cậy, có ý nghĩa với người làm chứng và nói chung phải lựa chọn điều tra viên là người có uy tín đối với người làm chứng đứng ra thuyết phục mới đạt hiệu quả cao. Mặt khác, việc phân tích, thuyết phục người làm chứng phải làm cho chính người làm chứng lĩnh hội sự tác động đó, không cảm thấy bị ép buộc, bị cưỡng bức.
- Hướng dẫn tư duy: Là chiến thuật tác động bằng các câu hỏi chọn lọc, buộc hoạt động tư duy của người làm chứng phải hướng theo chủ đề, theo ý muốn của người tác động. Chiến thuật này có thể được thực hiện bằng các cách sau:
+ Dan dắt sự liên tưởng: Điều tra viên đặt những câu hỏi dẫn dắt, buộc người làm chứng khi trả lời phải liên hệ với thực tế, với hoàn cảnh lúc xảy ra sự kiện, từ đó suy luận về ý muốn củạ người tác động.
+ Làm biến đổi hướng tư duy: Điều tra viên đật ra những câu hỏi khác với dự đoán của người làm chứng, làm cho họ không thể sử dụng câu trả lời đã chuẩn bị sẵn, không kịp suy nghĩ để bịa đặt câu trả lời khác.
- Gợi nhớ: Là chiến thuật tác động tâm lý được tiến hành bằng cách điều tra viên sử dụng những tín hiệu cần thiết để tác động đến người làm chứng nhằm làm xuất hiện trong não của họ những hình ảnh về sự việc, hiện tượng đã ghi nhớ trước đây về vụ án và bị can trong vụ án, từ đó mà khai báo đầy đủ, chi tiết hơn.
Chiến thuật tác động này áp dụng với những trường hợp người làm chứng đã có động cơ khai báo thành thật, có thiện chí khai báo, song do trí nhớ kém, do tính phức tạp của vấn đề, do thời gian xày ra lâu nên họ chưa nhớ các sự việc, hiện tượng về vụ án.
Để thực hiện có hiệu quả chiến thuật tác động này, điều tra viên cần tạo “môi trường” để người làm chứng có trạng thái tâm lý bình tĩnh, tập trung mọi khả năng, trí tuệ để nhớ lại. Điều tra viên nên sử dụng các mối liên tưởng trong trí nhớ như: liên tưởng gần nhau về không gian, thời gian; liên tưởng nhân quả; liên tưởng đối lập; liên tưởng thông qua điểm tựa trong trí nhớ... để gợi nhớ cho người làm chứng.
5. Lời khai của người làm chứng được sử dụng như thế nào?
Lời khai của người làm chứng cần phải được kiểm tra, xác minh trong quá trình điều tra. Có thể sử dụng các biện pháp sau đây để kiểm tra lời khai người làm chứng:
- Đối chiếu lời khai trước với lời khai sau của người làm chứng, lời khai của người làm chứng này với lời khai của người làm chứng khác.
- Đối chiếu lời khai của người làm chứng với các tài liệu, chứng cứ đã thu. được trong vụ án và với thực tế vụ án đã xảy ra mà cơ quan điều tra biết được qua các nguồn tài liệu khác.
- Dùng hoạt động điều tra khác để kiểm tra lời khai người làm chứng.
- Phân tích tính logic, tính hợp lý, tính mâu thuẫn trong lời khai của người làm chứng.
- Ngoài ra có thể áp dụng các phương pháp kiểm tra lời khai tại hiện trường, khẳng định sự có mặt của người làm chứng trong thời gian xảy ra sự kiện, xác minh về nhân thân của người làm chứng để kiểm tra độ tin cậy trong lời khai của họ.
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)