1. Hình ảnh đôi tay Tnú
Nếu cụ Mết hiện lên trong bức chân dung dầy dặn và ấn tượng về ngoại hình thì Tnú, Nguyễn Trung Thành chỉ tập trung khắc họa hình ảnh đôi bàn tay. Đôi bàn tay Tnú luôn xuất hiện trong những diễn biến quan trọng của cả cuộc đời anh. Khi còn lành lặn, đó là bàn tay dũng cảm, trung thực, yêu thương, tình nghĩa. Khao khát học chữ để lớn lên làm cán bộ giỏi, cậu bé Tnú đã đi bộ ba ngày đường lên núi Ngọc Linh, bàn tay cần mẫn nhặt đá trắng về làm phấn viết bảng học chữ, để rồi khi con chứ không vào đầu, xấu hổ với Mai, tự giận mình, bàn tay gan góc của Tnú đã "cầm một hòn đá, tự đập vào đầu, chảy máu ròng ròng". Bàn tay của chú bé mưu trí, dũng cảm suốt bao ngày đêm xé rừng lội suối mang công văn đi liên lạc cho cán bộ cách mạng; khi bị giặc bắt tra hỏi: "Cộng sản ở đâu?" Tnú không biết sợ, nói với giặc: "Cởi trói đã, tay mới chỉ được". Khi chúng cởi trói một tay, Tnú để bàn tay tín nghĩa, trung thành lên bụng mình nói: "ở đây này!". Khi thoát ngục Kon Tum trở về, gặp Mai ở đầu rừng lối vào làng, hai bàn tay của chàng trai Tây Nguyên xúc động năm tay Mai, Mai cũng cũng nắm chặt tay anh mà "ứa nước mắt khóc, không phải như một đứa trẻ nữa mà như một người con gái đã lớn, vừa xấu hổ vừa thương yêu". Những bàn tay thay lời nói yêu thương cho họ nên vợ nên chồng. Trong đêm đau thương của cuộc đời anh ba năm về trước, cũng bàn tay căm giận và yêu thương của Tnú đã "bứt đứt hàng chục trái vả mà không hay" khi phải chứng kiến cảnh giặc tra tấn vợ con, để rồi khi không thể kiềm chế mà lao vào kẻ thù cứu vợ con, Tnú đã bị giặc bắt trói, chúng quấn giẻ tẩm dầu xà nu đốt cháy đôi bàn tay anh, mười ngón tay anh cháy rừng rực như mười ngọn đuốc; mười ngọn đuốc của đôi bàn tay Tnú đã thổi bùng lên ngọn lửa căm hờn của dân làng Xô Man khiến họ ào ào lao vào nhà ưng giết chết tiểu đội ác ôn của thằng Dục, giải thoát cho Tnú. Bàn tay của Tnú đã được dập tắt lửa, nhưng mỗi ngón chỉ còn hai đốt, bàn tay mất một đốt ấy sẽ còn mãi như chứng tích đau đớn và căm hờn với kẻ thù tàn bạo mà Tnú mang theo suốt cuộc đời, bàn tay mà sau ba năm gặp lại, già làng vẫn không khỏi xúc động, đau đớn và giận dữ. Nhưng cũng chính hai bàn tay cụt đốt ấy đã chỉ ra một chân lý giản dị: "Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!" - hai cánh tay rộng lớn đầy sự chở che yêu thương của Tnú có thể ôm chặt vợ con trong giây phút cuối cùng nhưng khi chỉ có hai bàn tay không đương đầu với kẻ thù đầy súng đạn, Tnú không thể cứu được vợ con thoát khỏi cái chết, cũng không thể tự cứu bản thân mình khỏi sự tra tấn tàn bạo của kẻ thù. Đúng như lời già làng: "Ngón tay còn hai đốt vẫn bắn súng được", sau khi từ biệt dân làng đi bộ đội giải phóng, bàn tay Tnú vẫn tràn đầy sức mạnh để có thể cầm súng chiến đấu, vẫn đi tìm những thằng Dục tàn bạo để trả thù - bởi từ sau khi chứng kiến thằng Dục giết chết vợ con, trong cảm nhận của Tnú, "chúng nó đứa nào cũng là thằng Dục" - kẻ thù mang chung một gương mặt tàn bạo. Trong một trận công đồn, Tnú đã dùng bàn tay cụt một đốt của mình bóp cổ tên chỉ huy đồn địch dưới hầm ngầm cố thủ, dùng đèn pin soi thẳng vào mặt nó để kẻ thù có thể nhìn rõ bàn tay trừng phạt và căm hờn.
Vậy là, chỉ qua hình ảnh đôi bàn tay Tnú khi yêu thương, đau đớn, căm hận, khi kiên cường, quyết liệt với sức mạnh trả thù dữ dội, Nguyễn Trung Thành đã cho người đọc thấy số phận, tâm hồn, tính cách và cả con đường đi của người con trai bất khuất nơi núi rừng Tây Nguyên.
2. Tnú mang những vẻ đẹp đặc trưng của con người Tây Nguyên thời chống Mỹ
Bản thân tên Tnú cùng với tên làng Xô Man, dân tộc Strá, tên các nhân vật Brôi, Dít, Heng...; giữa những cánh rừng xà nu bạt ngàn đã tạo nên không khí xa xăm, hoang dại của núi rừng Tây Nguyên khiến nhân vật chính hoàn toàn được đặt vào một không gian thấm đẫm chất Tây Nguyên.
Tnú mang những nét tính cách rất đặc trưng của người Tây Nguyên. Từ bé, Tnú đã gan góc, mạnh mẽ, đầy cá tính. Học chữ thua Mai, Tnú đập bể cái bảng nứa, rồi cầm hòn đá tự đập vào đầu đến chảy máu để trừng phạt, đi liên lạc cho anh Quyết, Tnú cứ "xé rừng mà đi, lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang... vượt lên trên mặt nước, cưỡi lên thác mạnh... như một con cá kình". Vợ con bị giặc tra tấn, Tnú một mình tay không nhảy xổ vào giữa bọn lính cứu vợ con - sự xuất hiện dũng mãnh và sức mạnh khủng khiếp của người trai Tây Nguyên với tiếng hét dữ dội, hai con mắt là hai cục lửa lớn đã khiến bọn giặc vũ khí đầy mình cũng phải kinh hoàng, sợ hãi. Những hành động của Tnú nhanh và mạnh đến mức anh không biết mình đã làm gì. Chỉ biết thằng lính giặc to béo nằm ngửa ra giữa sân, thằng Dục tháo chạy vào nhà ưng. Khi bị giặc đốt cháy mười đầu ngón tay, Tnú đau đớn như điên dại, nhưng anh đã cắn nát môi mà không kêu vì nhớ lời anh Quyết nói: "Người cộng sản không thèm kêu van". Sự dũng cảm và sức mạnh phi thường của Tnú pha chút hoang dại của núi rừng, cũng vì thế mà câu chuyện cụ Mết kể về anh phảng phất hình bóng những trang anh hùng, dũng sĩ trong những thần thoại, truyền thuyết, những bản trường ca hào tráng của Tây Nguyên xưa.
Người con trai của núi rừng Tây Nguyên ấy còn mang tinh thần, ý chí và tầm vóc của con người Việt Nam thời chống Mỹ. Khác với A Phủ, với Núp trong kháng chiến chống Pháp phải qua một quá trình tìm đường, giác ngộ, Tnú đến với cách mạng một cách tự nhiên, chóng vánh và tất yếu vì được sống cạnh cán bộ cách mạng khi còn là một cậu bé. Từ nhỏ, Tnú đã được anh Quyết dạy chữ, đã có ý thức lớn lên tiếp bước anh Quyết "làm cán bộ giỏi", để lãnh đạo dân làng đánh giặc. Tnú học cái chữ của Đảng, đi tiếp tế, liên lạc và bảo vệ cho cán bộ theo lời dạy của già làng: "Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi nước này còn". Ở Tnú, lý tưởng và sự trung thành với Đảng, với cách mạng gắn liền với tình yêu quê hương, rừng núi, buôn làng. Sau sự kiện nổi dậy của dân làng Xô Man, sau bi kịch đau đớn của gia đình, người trai Tây Nguyên ấy đã thực sự trở thành người chiến sĩ kiên cường, trở thành "anh lực lượng" trong cái nhìn cảm phục, ngưỡng mộ của dân làng, Tnú đã trực tiếp cầm súng chiến đấu tiêu diệt kẻ thù, góp phần giải phóng quê hương, đất nước.
Tnú có tình yêu sâu sắc, mãnh liệt với quê hương, dân làng, với gia đình, vợ con. Nỗi xúc động của Tnú khi "nhận ra tiếng chày dồn dập của làng anh", nỗi nhớ day dứt trong anh suốt ba năm với âm thanh tiếng chày bình dị, thân yêu của người Strá, của mẹ, của vợ; sự đau đớn khi đi qua cái cây lớn nơi anh gặp lại Mai lần đầu lúc ra khỏi ngục Kon Tum; niềm sung sướng khi gặp lại dân làng, gặp lại dân làng, nhớ tên, nhớ mặt từng người trong làng dù đã ba năm xa cách; cảm giác ấm áp của một đứa con mồ côi được trở về gia đình lớn lên của mình, nỗi xúc động khi để cho "vòi nước của làng mình giội lên khắp người như ngày trước" - đó đều là những sắc thái tâm trạng của một con người có sự gắn bó và tình yêu tha thiết với quê hương, gia đình, vợ con. Và trong bi kịch đau đớn ba năm về trước, chính tình yêu sâu sắc với vợ con và sự đau đớn tột cùng khi chứng kiến cảnh vợ con bị tra tấn dã man khiến Tnú không còn đủ tỉnh táo nhận ra sự thật: anh không thể cứu hai vợ con khi chỉ có "hai bàn tay trắng". Quên đi lý trí, anh đã một mình tay không lao vào quân giặc đầy đủ vũ khí. Bằng cách ấy, tuy Tnú không cứu được vợ con, thậm chí cũng không cứu được chính bản thân mình khỏi sự tra tấn tàn bạo của kẻ thù nhưng anh đã ở bên vợ con trong thời khắc họ cần anh nhất, anh đã đem lại cho vợ con niềm an ủi duy nhất và lớn nhất trước lúc chết, đó là cảm giác được sẻ chia, xót thương, được bảo vệ, che chở trong lồng ngực mạnh mẽ, chan chứa tình yêu thương của một người chồng, người cha.
Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê về hình tượng nhân vật Tnú trong "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành. Hy vọng bài viết sẽ giúp ích cho quý độc giả. Xin trân trọng cảm ơn!