1. Top các mẫu viết bài phân tích tám câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích siêu hay

Bài mẫu 1

Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc, người đã để lại cho đời kiệt tác Truyện Kiều với giá trị nhân đạo và nghệ thuật sâu sắc. Trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, tám câu thơ cuối được xem là đỉnh cao của bút pháp tả cảnh ngụ tình, thể hiện rõ nét nỗi buồn, sự cô đơn và dự cảm tương lai đầy bất trắc của Thúy Kiều.

Mở đầu đoạn thơ là điệp ngữ “buồn trông” được lặp lại bốn lần, như những làn sóng cảm xúc dâng lên không dứt. “Buồn” là tâm trạng, “trông” là hướng nhìn ra bên ngoài, nhưng càng nhìn lại càng buồn. Điều đó cho thấy Kiều đang rơi vào trạng thái bế tắc, không tìm được lối thoát cho số phận mình.

Ở hai câu đầu, không gian “cửa bể chiều hôm” mở ra rộng lớn, mênh mông. Hình ảnh “cánh buồm xa xa” gợi lên sự nhỏ bé, lạc lõng. Cánh buồm ấy như một tia hi vọng mong manh, nhưng lại càng làm nổi bật nỗi cô đơn của Kiều. Nàng khao khát được trở về, được đoàn tụ, nhưng tất cả chỉ là xa vời.

Đến hai câu tiếp, hình ảnh “hoa trôi man mác” trên dòng nước gợi lên thân phận lênh đênh, vô định. Câu hỏi “biết là về đâu?” chính là lời tự vấn đầy đau đớn. Kiều nhận ra mình cũng như cánh hoa kia, bị dòng đời xô đẩy, không thể tự quyết định tương lai.

Hai câu thơ tiếp theo mở ra một không gian ngập tràn màu sắc nhưng lại vô cùng u ám: “nội cỏ rầu rầu”, “một màu xanh xanh”. Màu xanh ở đây không phải là sức sống mà là sự đơn điệu, buồn tẻ, kéo dài vô tận. Nó phản ánh tâm trạng chán chường, tuyệt vọng của Kiều khi bị giam cầm cả về thể xác lẫn tinh thần.

Đỉnh điểm của nỗi buồn là hai câu thơ cuối. Hình ảnh “gió cuốn mặt duềnh” cùng âm thanh “ầm ầm tiếng sóng” tạo nên một khung cảnh dữ dội. Sóng không còn ở xa mà như vây quanh “ghế ngồi”, báo hiệu những tai họa sắp ập đến. Đây là dự cảm đầy ám ảnh về cuộc đời sóng gió của Kiều.

Tám câu thơ là minh chứng cho tài năng của Nguyễn Du trong việc miêu tả nội tâm. Qua đó, ta thấy được tấm lòng xót thương sâu sắc của ông dành cho người phụ nữ tài hoa nhưng bạc mệnh.

Bài mẫu 2

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã nhiều lần thể hiện khả năng thấu hiểu tâm lí nhân vật một cách tinh tế. Đặc biệt, tám câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là bức tranh tâm trạng đầy ám ảnh, nơi thiên nhiên trở thành tiếng nói của lòng người.

Điệp ngữ “buồn trông” lặp lại bốn lần tạo nên nhịp điệu trầm buồn, như những tiếng thở dài nối tiếp. Mỗi lần “buồn trông” là một lần tâm trạng Kiều chuyển biến, từ nỗi nhớ đến lo âu, rồi tuyệt vọng và cuối cùng là kinh sợ.

Hình ảnh đầu tiên là “cửa bể chiều hôm” với “cánh buồm xa xa”. Không gian rộng lớn, thời gian cuối ngày khiến nỗi buồn càng thêm sâu. Cánh buồm thấp thoáng gợi lên sự chia lìa, xa cách, khiến Kiều càng thấm thía nỗi cô đơn.

Tiếp đến là hình ảnh “hoa trôi man mác”. Đây là biểu tượng quen thuộc cho thân phận người phụ nữ. Cánh hoa nhỏ bé giữa dòng nước chính là hình ảnh của Kiều – một con người bị cuốn vào vòng xoáy định mệnh, không biết tương lai sẽ đi đâu về đâu.

Ở cặp câu thứ ba, màu sắc trở nên đơn điệu với “một màu xanh xanh”. Không gian như kéo dài vô tận nhưng lại bế tắc, không lối thoát. Tâm trạng Kiều lúc này là sự chán chường, mất phương hướng.

Hai câu cuối mang âm hưởng dữ dội với tiếng sóng “ầm ầm”. Âm thanh ấy như báo hiệu những giông bão cuộc đời đang chờ đợi phía trước. Kiều không chỉ buồn mà còn lo sợ, hoảng loạn trước tương lai.

Đoạn thơ cho thấy nghệ thuật tả cảnh ngụ tình bậc thầy của Nguyễn Du. Qua đó, ông bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc đối với số phận con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội cũ.

Bài mẫu 3

Tám câu thơ cuối trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một trong những đoạn thơ giàu giá trị biểu cảm nhất của Truyện Kiều. Ở đó, Nguyễn Du đã khắc họa thành công diễn biến tâm trạng phức tạp của Thúy Kiều thông qua hình ảnh thiên nhiên.

Điểm nổi bật của đoạn thơ là điệp ngữ “buồn trông”. Sự lặp lại này không gây nhàm chán mà ngược lại, tạo nên âm hưởng da diết, nhấn mạnh nỗi buồn triền miên của nhân vật.

Thiên nhiên trong đoạn thơ không tách rời tâm trạng mà luôn gắn bó mật thiết với nó. “Cánh buồm xa xa” gợi nỗi nhớ, “hoa trôi man mác” gợi thân phận, “nội cỏ rầu rầu” gợi sự héo úa, còn “tiếng sóng ầm ầm” gợi sự dữ dội của tương lai.

Đặc biệt, sự thay đổi từ tĩnh sang động, từ xa đến gần đã làm nổi bật sự vận động của nỗi buồn. Ban đầu là nỗi buồn man mác, sau đó là lo âu, rồi tuyệt vọng và cuối cùng là nỗi sợ hãi.

Qua đoạn thơ, ta không chỉ thấy được tâm trạng của Kiều mà còn cảm nhận được tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du. Ông đã dành cho nhân vật của mình một sự cảm thông sâu sắc, đồng thời lên án xã hội bất công đã đẩy con người vào bi kịch.

Bài mẫu 4

Đoạn thơ tám câu cuối Kiều ở lầu Ngưng Bích là một minh chứng tiêu biểu cho nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của Nguyễn Du. Qua bốn bức tranh thiên nhiên, nhà thơ đã thể hiện trọn vẹn nỗi lòng của Thúy Kiều trong hoàn cảnh cô đơn, bế tắc.

“Buồn trông” không chỉ là một điệp ngữ mà còn là nhịp đập của cảm xúc. Mỗi lần lặp lại là một lần nỗi buồn dâng cao hơn.

Từ hình ảnh cánh buồm nơi cửa bể đến cánh hoa trôi trên dòng nước, từ nội cỏ héo úa đến tiếng sóng dữ dội, tất cả đều phản ánh một tâm trạng ngày càng nặng nề. Đó là quá trình từ nhớ thương đến lo lắng, rồi tuyệt vọng và cuối cùng là hoảng sợ.

Đặc sắc của đoạn thơ còn nằm ở việc sử dụng từ láy. Những từ như “man mác”, “rầu rầu”, “ầm ầm” không chỉ giàu nhạc điệu mà còn có khả năng gợi hình, gợi cảm mạnh mẽ.

Kết lại, tám câu thơ là một bức tranh tâm trạng đầy ám ảnh, thể hiện tài năng và tấm lòng của Nguyễn Du. Đoạn thơ để lại trong lòng người đọc niềm thương cảm sâu sắc đối với số phận Thúy Kiều.

 

Bài mẫu 5

Nguyễn Du chính là ngọn cờ đầu đưa nền văn học chữ Nôm của dân tộc ta phát triển tới đỉnh cao với kiệt tác truyện Kiều. Người ta đọc truyện và ấn tượng với nó không chỉ bởi tài năng của Nguyễn Du mà có lẽ bởi tấm lòng nhân đạo của ông dành cho người phụ nữ tài hoa nhưng bạc mệnh. Với tám câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích chính là bức tranh tâm trạng đầy xúc động của Thúy Kiều qua cách nhìn cảnh vật.

Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích nằm ở phần Gia biến và lưu lạc khi gia đình gặp cơn loạn lạc, Kiều đã quyết định bán mình để chuộc cha. Trải qua bao gian khổ Kiều đã bị Tú Bà đưa ra sống ở lầu Ngưng Bích. Trong tâm trạng của một con người xa quê và nhớ nhà trước khung cảnh của lầu Ngưng Bích một nỗi buồn mênh mang đã khiến cho Kiều có những cảm xúc:

Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Hai câu thơ tả cảnh biển khơi mênh mông dưới ánh chiều tà, thời điểm buổi chiều luôn là thời điểm gọi buồn gợi nhớ đặc biệt là đối với những kẻ tha hương xa xứ. Hình ảnh biển bao la nhưng chỉ có một con thuyền thấp thoáng xa xa, lúc ẩn lúc hiện như có như không. Chính sự lẻ loi, cô đơn của chiếc thuyền đã là hình ảnh ẩn dụ cho thân phận bơ vơ, lẻ loi của Kiều.

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu

Hình ảnh thuyền trôi vô định nhưng đến cánh hoa cũng vô định cũng chẳng biết về đâu. Cánh hoa rơi nơi sóng nước Kiều lại liên tưởng đến thân phận của mình, cuộc đời nàng cũng giống như một đóa hoa phù dung sớm nở tối tàn, bị gió dập sóng dồi. Xa cha mẹ là cuộc đời Kiều giống như cánh chim lạc bầy trong giông tố, không tự quyết định được phương hướng và tương lai của mình. Kiều nhắm mắt mặc dòng đời xô đẩy

Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Màu cỏ ở đây không còn là cỏ non xanh tận chân trời giống như ngày tiết Thanh minh mà là nội cỏ rầu rầu, chính là một màu vàng úa, héo hắt, thê lương. Màu xanh xanh nhưng lại nhàn nhạt tạo cho cỏ cây không còn nét tươi mà thêm vẻ ủ rũ tạo nên một sắc buồn tẻ nhạt. Tuổi thanh xuân của Kiều với tài năng trời phú và nét đẹp của mình nhưng Kiều đã phải chôn vùi tuổi thanh xuân ấy ở lầu Ngưng Bích.

Buồn trông gió cuốn mặt dềnh 

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

Hình ảnh biển khơi đang êm ả không có một chút âm thanh nhưng cuối khổ thơ lại là tiếng sóng ầm ầm, tiếng sóng bốn phía như muốn cuốn hết đi thân phận nhỏ bé của Kiều, như chỉ trực chờ đẩy con người xuống vực thẳm. Sóng gió biển khơi hay thực chất là sóng gió cuộc đời đang chờ đón Kiều. Đó chính là những âm thanh báo hiệu một tương lai đầy bất chấp để sau đó Kiều liên tiếp gặp những khổ cực trong cuộc đời mình.

Với ngòi bút tài hoa và tinh tế của Nguyễn Du cảnh và tình uốn lượn song song. Cảnh vật thay đổi tạo thành một bộ bức tranh tứ bình về tâm trạng của Kiều với các câu hỏi tu từ, một loạt các từ láy đã gợi hình ảnh gợi cảm góp phần khơi dậy những cơn sóng trong lòng của Kiều. Với đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích đã cho ta thấy rõ những nét tâm trạng của Kiều, giúp ta có những sự cảm đau đớn về tương lai của Kiều ở phía trước. Đồng thời thể hiện được cái tài, cái tâm của Nguyễn Du.

Với 8 câu thơ ngắn gọn nhưng đã thể hiện được cái tài của Nguyễn Du trong bút pháp tả cảnh ngụ tình với tấm lòng nhân đạo của ông người đọc như cảm thông với số phận của nàng Kiều. Đồng thời lên án xã hội phong kiến đã đẩy những con người tài hoa nhưng không được xã hội coi trọng.

Bài mẫu 6

 

Khi nhắc tới đại thi hào Nguyễn Du ta không thể không nhớ tới tài năng sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của ông. Một trong những đoạn trích tiêu biểu miêu tả nội tâm nhân vật xuất sắc nhất của Nguyễn Du đó chính là đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích. Với tám câu thơ cuối của đoạn trích ta có thể cảm nhận được tâm trạng đau đớn, buồn tủi và cô đơn của Kiều ở lầu Ngưng Bích qua tài năng, nghệ thuật xuất sắc của đại thi hào.

Tám câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích chính là đỉnh cao trong nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du. Với bốn cặp thơ lục bát không chỉ cho thấy được sự đau đớn cô đơn của Thúy Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích mà còn mang tới những dự cảm về một tương lai sóng gió cuộc đời.

Mở đầu bức tranh tâm trạng là điệp ngữ Buồn trông được lặp lại bốn lần tạo thành điệp khúc buồn bộc lộ nội tâm nhân vật với một nỗi buồn đang dâng lên tầng tầng lớp lớp

Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Cảnh vật ở lầu Ngưng Bích như thấu hiểu đồng điệu với nỗi đau của Thúy Kiều. Hình ảnh hoàng hôn gợi một cảnh chiều buồn, cả không gian mênh mông và thời gian qua con mắt của Kiều hình ảnh hoàng hôn ấy thật trầm buồn và uất giống như những nỗi sầu đang trào dâng trong tâm hồn của nàng. Chiều hôm là khi bóng đêm dần bao phủ. Đây chính là khoảng thời gian yên tĩnh để con người ta sống chậm lại, để có những chiêm nghiệm và suy ngẫm về cuộc đời. Với không gian chiều tà mênh mông trước biển cả rộng lớn, Thúy Kiều cũng tủi phận và nghĩ về thân phận mình. Kiều thấm thía hơn nữa sự cô đơn bé nhỏ và tình cảnh trớ trêu của bản thân mình. Không gian rộng lớn và hình ảnh chiếc thuyền nhỏ bé khiến cho tâm trạng của người con gái xa nhà càng thêm buồn tủi, cô đơn, xót xa.

Kiều mong mỏi một mái ấm gia đình, một người để dựa vào thế nhưng Thuyền ai thấp thoáng chính là biểu tượng của sự sống có người nhưng sự thấp thoáng ở đây và từ xa xa đã cho thấy điều hư ảo, mịt mờ mà không có thật. Với nghệ thuật đảo ngữ đã nhấn mạnh sự nhỏ bé, xa xôi, mờ ảo của con thuyền nơi cửa bể. Chiếc thuyền lênh đênh như Kiều mờ mịt không bến, không bờ, không phương hướng giống như cuộc đời của Kiều.

Khi ngắm nhìn cảnh mặt biển phía xa  Kiều cảm thấy buồn nên đã tìm về cảnh vật xung quanh mình gần hơn để có thể quan sát kĩ càng hơn để không còn thấy thấp thoáng, không còn thấy mịt mù như con thuyền kia nữa. Thế nhưng

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu

Giữa dòng nước đang cuộn chảy phía dưới chân kìa những cánh hoa đang xoay tròn, bị cuốn trôi đi. Cánh hoa mỏng manh ấy chính là ẩn dụ về số phận của người con gái chìm nổi giữa dòng đời, gợi nhắc về một số phận đầy bi kịch của nàng. Câu hỏi tu từ hoa trôi man mác biết là về đâu giống như xoáy vào trong tâm tư của người đọc. Ta thấy sự tuyệt vọng và thấy sự buông xuôi của Kiều.

Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt nước một màu xanh xanh

Hình ảnh ngọn cỏ không còn xanh non như trước mà đã rầu rầu càng nhấn mạnh thêm nỗi ưu phiền của nàng. Trong khung cảnh vắng lặng ấy Kiều muốn nghe được một tiếng vọng lại của một lời hồi đáp của con người để nàng cảm thấy an ủi và được thấy đỡ cô đơn

Buồn trông gió cuốn mặt dềnh 

Ầm ầm tiếng sóng vây quanh ghế ngồi

Cả sáu câu thơ đầu đều không có một chút âm thanh nhưng ở hai câu thơ cuối tiếng sóng ầm ầm thể hiện sự đột ngột bất ngờ. Từ ầm ầm cũng là dự đoán tương lai về một số phận, về những bi kịch mà Kiều phải chịu đựng tiếp theo.

Qua tám câu thơ ta thấy được bút pháp tả cảnh ngụ tình tài hoa của Nguyễn Du. Đó chính là tâm trạng của người con xa xứ, của một con người tài hoa nhưng bạc mệnh bị xã hội ruồng bỏ.

 

2. Dàn ý viết bài phân tích tám câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích 

Mở bài

Giới thiệu khái quát về Nguyễn Du – đại thi hào dân tộc với kiệt tác Truyện Kiều giàu giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Dẫn dắt vào đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, một trong những đoạn thơ tiêu biểu cho nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật. Nêu vấn đề: tám câu thơ cuối là bức tranh tâm trạng đặc sắc, thể hiện nỗi buồn, sự lo âu và dự cảm về tương lai đầy sóng gió của Thúy Kiều qua bút pháp tả cảnh ngụ tình bậc thầy.

Thân bài

Trước hết, cần làm rõ nghệ thuật sử dụng điệp ngữ “Buồn trông”. Đây là điểm nhấn xuyên suốt tám câu thơ, được lặp lại bốn lần như một điệp khúc của nỗi buồn. “Buồn” là cảm xúc, “trông” là hành động hướng ra bên ngoài, nhưng càng trông lại càng buồn, thể hiện tâm trạng bế tắc của Kiều. Điệp ngữ này tạo nhịp điệu trầm lắng, gợi cảm giác nỗi buồn dâng lên từng lớp, bủa vây tâm hồn nhân vật, đồng thời khắc họa rõ sự cô đơn tuyệt đối nơi lầu Ngưng Bích.

Tiếp theo, phân tích bốn cặp câu thơ tương ứng với bốn bức tranh thiên nhiên cũng là bốn cung bậc tâm trạng.

Ở cặp câu đầu, hình ảnh “cửa bể chiều hôm” và “cánh buồm xa xa” gợi không gian rộng lớn, mênh mông cùng thời điểm dễ khơi dậy nỗi nhớ. Cánh buồm thấp thoáng nơi xa như một dấu hiệu mong manh của sự sống, nhưng lại càng làm nổi bật nỗi cô đơn, lạc lõng và khát khao được trở về sum họp của Kiều.

Sang cặp câu thứ hai, tầm nhìn hướng xuống dòng nước với hình ảnh “hoa trôi man mác”. Cánh hoa trôi là biểu tượng cho thân phận mỏng manh, lênh đênh, vô định. Câu hỏi “biết là về đâu?” thể hiện nỗi hoang mang, lo âu trước tương lai mịt mờ, không thể tự quyết định số phận của chính mình.

Đến cặp câu thứ ba, không gian mở rộng với “nội cỏ rầu rầu” và “một màu xanh xanh”. Màu sắc đơn điệu, héo úa gợi cảm giác chán chường, bế tắc. Tâm trạng Kiều lúc này không chỉ là buồn mà còn là sự tuyệt vọng, như bị giam hãm trong một không gian không lối thoát, nơi tuổi xuân dần bị chôn vùi.

Cuối cùng, hai câu thơ kết là cao trào của cảm xúc với hình ảnh “gió cuốn mặt duềnh” và “tiếng sóng ầm ầm”. Âm thanh dữ dội cùng chuyển động mạnh mẽ báo hiệu những tai họa sắp ập đến. Tiếng sóng như vây quanh ghế ngồi không chỉ là cảnh thực mà còn là dự cảm hãi hùng về số phận đầy bão tố đang chờ đợi Kiều phía trước.

Từ đó, khái quát đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ. Nguyễn Du đã vận dụng tài tình bút pháp tả cảnh ngụ tình, biến cảnh vật thành phương tiện biểu đạt tâm trạng. Hệ thống từ láy giàu giá trị gợi hình, gợi cảm như “thấp thoáng”, “man mác”, “rầu rầu”, “ầm ầm” góp phần khắc họa sinh động diễn biến nội tâm. Trình tự miêu tả hợp lí từ xa đến gần, từ tĩnh đến động, làm nổi bật sự vận động tăng tiến của nỗi buồn.

Kết bài

Khẳng định lại giá trị của tám câu thơ: không chỉ thể hiện sâu sắc tâm trạng cô đơn, lo âu và dự cảm bất an của Thúy Kiều mà còn cho thấy tài năng bậc thầy của Nguyễn Du trong việc miêu tả nội tâm nhân vật. Qua đó, đoạn thơ góp phần thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của tác giả đối với số phận người phụ nữ trong xã hội cũ, để lại ấn tượng ám ảnh và xúc động lâu dài trong lòng người đọc.