Mẫu 01. Phân tích cái hay của điệp ngữ Buồn trông trong Kiều ở lầu Ngưng Bích

rong văn học Việt Nam, không có gì đầy cảm xúc và tinh tế hơn đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du. Đây không chỉ là một phần của câu chuyện, mà còn là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, nơi mà tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều được miêu tả một cách sâu sắc và đầy màu sắc.

Trong những câu thơ cuối cùng của đoạn này, sức mạnh của từ ngữ kết hợp với sự tinh tế của biểu cảm đã tạo ra một không gian tĩnh lặng, nơi mà cảm xúc của Kiều lan tỏa một cách mạnh mẽ. Những hàng cây, những ánh sáng lung linh và cảm giác bất lực được thể hiện qua từng từ ngữ, từng hình ảnh, tạo nên một bức tranh tâm trạng đầy ấn tượng.

Những dòng thơ cuối cùng đầy sâu lắng và cảm động, nhưng cũng đầy bi kịch, khiến người đọc không thể không bị cuốn vào thế giới nội tâm của Thúy Kiều. Chúng như những âm thanh êm đềm, nhẹ nhàng vang lên từ trái tim đau đớn của nhân vật, để lại trong lòng độc giả một cảm xúc khó quên, một điểm dừng đầy ấn tượng trong hành trình tìm kiếm hạnh phúc của Kiều.

"Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt nước một màu xanh xanh
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng vây quanh ghế ngồi".

Bức tranh đầu tiên hiện lên trước mắt chúng ta là "Buồn trông dòng sông xa". Tranh này tả lại hình ảnh của một dòng sông xa xăm, trôi qua những thung lũng u ám, mịt mùng. Cảnh vật này không chỉ là hình ảnh vật lý của một dòng sông mà còn là biểu tượng cho sự trôi chảy của thời gian và cuộc sống, sự xa cách và cô đơn của Kiều. Nàng nhìn vào dòng sông, cảm nhận được sự bất lực và cô đơn của mình giữa cuộc sống vô tình.

Bức tranh thứ hai là "Buồn trông núi non đa". Núi non trong tranh là biểu tượng cho sự vững chãi, kiên cường nhưng cũng đồng thời là biểu tượng của sự cô đơn và khao khát của con người. Núi non đa đầy gai góc, hiểm trở nhưng cũng đầy ẩn chứa sự bí ẩn và huyền bí. Kiều nhìn thấy núi non đa, cảm nhận được sự cô đơn và khao khát của mình trong cuộc sống, và bức tranh này làm cho nỗi buồn của nàng trở nên sâu sắc hơn.

Bức tranh thứ ba là "Buồn trông bóng cây già". Tranh này tả lại hình ảnh của những cây già u uất, già nua, biểu tượng cho sự trải qua của thời gian và những nỗi buồn của cuộc đời. Bóng cây già mang trong mình sự u sầu và cô đơn, làm cho nỗi buồn của Kiều càng trở nên hiện hữu và đau đớn hơn.

Bức tranh cuối cùng là "Buồn trông mái tranh che". Tranh này tả lại hình ảnh của một mái tranh che, biểu tượng cho sự bảo vệ và che chở nhưng cũng đồng thời là biểu tượng của sự cô đơn và bất lực. Mái tranh che trở thành một bức tường ngăn cách Kiều với thế giới bên ngoài, làm cho nàng cảm thấy mình cô đơn và xa lạ.

Tất cả bốn bức tranh này không chỉ là một mô tả về cảnh vật bên ngoài lầu Ngưng Bích mà còn là một biểu hiện của tâm trạng, cảm xúc và nỗi buồn của Kiều. Bằng cách này, Nguyễn Du đã tạo ra một không gian tinh thần đậm chất thơ và sâu lắng, làm cho người đọc cảm nhận được sâu sắc hơn về tâm trạng và cảm xúc của nhân vật chính trong câu chuyện.

"Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa"

Ghé mắt nhìn về cửa bể, Kiều mong cảnh vật sẽ mang lại chút niềm vui cho mình, nhưng lại bắt gặp khung cảnh "của bể chiều hôm". Chỉ nghe hai tiếng "chiều hôm" thôi, cũng thấy cái gì đó thật sầu muộn. Bởi khi đó là khi ánh mặt trời sắp lụi tàn, chỉ còn vương vấn chút ánh sáng thoi thóp trên mặt nước bể. Một dải nước mênh mang choáng lấy cái nhìn, nó cứ hút mãi tầm mắt ra xa, càng trông lại càng vô tận vô cùng. Ngoài đó chẳng có gì ngoài một miền trống vắng đến hoang hoải khi bầu trời đang dần chuyển mình vào màn đêm. Tưởng như chẳng có gì để mà bắt gặp vậy mà Kiều lại thấy "thấp thoáng" đâu đó một chiếc thuyền với "cánh buồm xa xa".

Nếu như người ta thường trông thấy cả một đoàn thuyền tấp nập, nhộn nhịp nối đuôi nhau thì ở đây, Kiều chỉ trông thấy một chiếc thuyền đang lẻ loi giữa cửa biển xa xăm. Chiếc thuyền ấy thật mơ hồ, lẻ loi, "thuyền ai", Kiều tự hỏi, nó đang trôi về đâu? Phải chăng nó cũng đang trôi dần về vô định, trôi trong sự cô đơn lạc lõng giống như Kiều? Và chiếc thuyền ấy cũng đang dần mất hút về phía chân trời bởi Kiều chỉ còn nhìn thấy chiếc buồm "thấp thoáng" ngoài xa. "Thấp thoáng" - một từ mà khiến người ta cảm thấy nó mờ nhạt quá, cứ chợt ẩn, chợt hiện, mơ hồ, như một ảo ảnh của con người. Tâm trạng đã thật trĩu nặng, cảnh vật lại càng khiến cho lòng nàng thấm thía, buồn tủi hơn vài phần.

Ngoảnh mặt sang phía bên kia của góc lầu, nàng muốn tìm một khung cảnh khác tươi vui hơn thế nhưng:

"Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu"

Lần thứ ba Kiều ngoảnh mặt, bức tranh cảnh vật lại càng thêm bi thương hơn nữa. Trước mắt nàng là một khung cảnh u ám, đầy bi kịch. Một cây cầu cũ kỹ đang rỉ sét, mục nát, xiêu vẹo giữa dòng nước đen đủi. Những tấm ván gãy vụn, những đợt sóng cuồn cuộn đập vào cột cầu làm cho nó rung chuyển, lung lay như đang dậy sóng cùng với biển cả đau khổ.

Kiều không thể nào kìm nén được nỗi buồn khi chứng kiến cảnh tượng ấy. Đoạn đường bí hiểm, u ám của cuộc đời, một cây cầu rỉ sét như biểu tượng cho sự hao mòn, mục nát của thời gian và số phận. Nàng cảm thấy chính mình cũng giống như cây cầu ấy, một phần của cuộc sống, đang bị nhấn chìm trong bi kịch và đau thương. Cảnh vật u ám kia đã thêm một lớp tuyệt vọng, buồn bã vào tâm trạng của Kiều, làm cho nàng nhận ra rằng cuộc đời không phải lúc nào cũng đẹp đẽ và tươi vui, mà đôi khi nó còn đầy rẫy những gai góc, khó khăn và thử thách.

Nhìn vào cảnh tượng u ám đó, Kiều cảm nhận mình như một phần của nó, như một phần của sự trống trải, u ám và buồn bã. Mỗi đợt sóng đập vào cây cầu cũ kỹ là một đợt sóng đập vào tâm hồn nàng, làm cho nỗi buồn và đau khổ trong lòng Kiều càng trở nên sâu sắc hơn. Đó là một bức tranh cảnh vật không chỉ tả lại hình ảnh ngoại cảnh mà còn lồng ghép vào đó tâm trạng, cảm xúc và suy tư sâu xa của nhân vật chính, tạo nên một không gian tinh thần đậm đà và đầy cảm xúc.

"Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt nước một màu xanh xanh"

Như Nguyễn Du cũng đã từng nói: "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ", vậy nên giờ đây, ngó quanh bên mình, cái nhìn mang một nỗi sầu muộn nên vẫn chỉ là "buồn" mà "trông". Lại là một khung cảnh quạnh quẽ, thê lương! Chẳng còn màu xanh tươi mát của: "Cỏ non xanh tận chân trời" như những ngày còn êm ấm, giờ đây, Kiều chỉ thấy một "nội cỏ rầu rầu".

Vẫn là một thảm cỏ trải dài tới tận chân trời, thế nhưng lại mang một màu sắc thật u ám "rầu rầu", không chút sức sống. Cả một cánh đồng cỏ mênh mông, không một bóng hoa, bóng cây, nhà cửa, con người, thật đơn điệu, thật nhàm chán biết bao. Nhìn ra xa, toàn một màu cỏ vàng úa, héo tàn, chẳng còn chút sức sống mãnh liệt thuở nào, hay chăng cũng giống như tâm trạng của Kiều lúc này, cùng sầu thảm, bi thương, héo úa hệt như thế? Cánh đồng cỏ bát ngát ấy chắc cũng hệt như tâm trạng con người ngắm nó lúc này:

"Chân mây mặt đất một màu xanh xanh"

Khi nàng ngoảnh mặt về phía cuối cùng, bức tranh cuối cùng mở ra trước mắt Kiều lại tiếp tục là một khung cảnh khiến người ta cảm thấy thê lương đến vô cùng. Mặt đất và bầu trời dường như nối liền vào nhau, tạo thành một màu "xanh xanh" mờ mịt. Tuy "xanh xanh" nhưng không phải là một màu xanh tươi sáng, mà lại là một loại xanh nhợt nhạt, xa xôi và lạnh lẽo.

Nguyễn Du đã sử dụng hai từ "xanh xanh" để mô tả màu sắc của khung cảnh, nhấn mạnh vào sự u ám và buồn bã của nó. Màu xanh nhợt nhạt, không rõ ràng, tạo ra cảm giác cô đơn và sầu thảm cho người ngắm nhìn. Điều này làm cho nỗi buồn trong tâm trạng của Kiều ngày càng trở nên sâu sắc hơn.

Ở bức tranh này, nỗi buồn trong tâm hồn của Kiều đã thực sự thấm đẫm vào từng tia thịt, từng tế bào của cô. Không còn là sự buồn vương vấn hay thoáng qua như ở ba bức tranh trước, mà nay nó đã trở thành một phần không thể tách rời trong tâm trí và trái tim của Kiều. Khung cảnh u ám, lạnh lẽo kia đã gợi lên những cảm xúc bi ai, thê lương và cô đơn, tạo ra một không gian tinh thần đậm đà của nỗi buồn và tuyệt vọng.

"Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng vây quanh ghế ngồi".

Bức tranh thứ tư trong tập thơ của Nguyễn Du là một điểm nhấn đặc biệt, là một cái nhìn sâu sắc vào tâm trạng của Kiều. Các bức tranh phong cảnh trước đó chỉ như phông nền, chuẩn bị cho sự trào dâng của nỗi buồn ở bức tranh này. Trong bức tranh này, một vùng biển ăn sâu vào trong bờ đất, với mặt biển lớn mênh mang và cuồn cuộn. Âm thanh của sóng biển, "ầm ầm", đầy mạnh mẽ và cuồng nộ, gợi lên hình ảnh của sức mạnh tự nhiên đang giữa trung tâm của cơn bão. Sự rung chuyển của sóng biển, cùng với hình ảnh bọt biển trắng xóa, tạo ra một không gian kinh hoàng và loạn lạc.

Kiều, ngồi trong lầu Ngưng Bích, nghe tiếng sóng vỗ gào thét, cảm thấy như đang bị cuốn vào cái không gian rộng lớn và đầy nguy hiểm của biển cả. Nỗi lo lắng và sợ hãi bắt đầu chi phối tâm trí của cô, khiến cô nghĩ đến tương lai không rõ ràng và những khó khăn phía trước.

Bức tranh này không chỉ là một phản ánh của sự lo lắng và tuyệt vọng trong tâm trí của Kiều, mà còn là một dự báo về những khó khăn mà cô sẽ phải đối mặt trong tương lai. Sự tương phản giữa sức mạnh tự nhiên của biển cả và sự yếu đuối của con người, cùng với sự tách biệt giữa con người và cảnh vật, tất cả đều tạo nên một bức tranh bi thương về cuộc đời của Kiều.

Cuối cùng, điệp từ "buồn trông" được Nguyễn Du đặt ở đầu mỗi câu thơ là một lời nhắc nhở về nỗi buồn vô tận trong cuộc sống của con người. Bốn bức tranh phong cảnh kết hợp với điệp từ này tạo ra một tác phẩm thơ vô cùng ấn tượng, thể hiện sự sâu sắc và tinh tế trong miêu tả tâm trạng của con người, một trong những điểm mạnh của Nguyễn Du như một nhà thơ lớn.

 

Mẫu 02. Phân tích cái hay của điệp ngữ Buồn trông trong Kiều ở lầu Ngưng Bích

Trong tác phẩm vĩ đại "Truyện Kiều", có không ít đoạn trích độc thoại nội tâm, miêu tả sâu sắc tâm trạng của Thúy Kiều trong hành trình mười lăm năm lưu lạc xa quê. Tuy nhiên, không thể không nhắc đến một đoạn thơ nổi bật, đặc sắc nhất, đó chính là đoạn "Kiều ở lầu Ngưng Bích". Đây không chỉ là một trong những trích đoạn miêu tả nội tâm nhân vật xuất sắc nhất mà còn là biểu hiện tinh tế nhất của tài nghệ sĩ Nguyễn Du. Tại đây, tất cả vẻ đẹp, sâu lắng và tài hoa của ông đều được thể hiện một cách hoàn mỹ, đặc biệt là trong tám câu cuối của đoạn thơ.

Những câu thơ này không chỉ đơn thuần là một phản ánh của tâm trạng buồn bã của Kiều mà còn là một bức tranh tinh tế về cảnh vật và tâm trạng, tạo nên một không gian tưởng tượng đầy màu sắc và sâu sắc. Điều đặc biệt là sự kết hợp tinh tế với điệp từ "buồn trông", tạo nên một hiệu ứng tâm lý mạnh mẽ, khiến độc giả không thể không bị cuốn vào thế giới tâm trạng u uất của Kiều. Đoạn thơ này không chỉ là một tác phẩm văn chương mà còn là một tác phẩm nghệ thuật tinh tế, làm cho người đọc không khỏi cảm thấy sâu lắng và xúc động. Đó chính là sức mạnh và vẻ đẹp của văn chương, của tâm hồn con người, được thể hiện qua bút pháp của Nguyễn Du.

“Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
    Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
    Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt nước một màu xanh xanh
    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng vây quanh ghế ngồi”.

Tám câu thơ trên mới đọc qua tưởng chừng chỉ tả những cảnh vật bên ngoài lầu Ngưng Bích nhưng ngẫm lại thì mới thấy thực ra nó đang tả lại cái tâm trạng con người, tâm trạng của Kiều.

Bốn bức tranh được dựng lên bằng tám câu thơ, mỗi bức tranh là một khung cảnh khác nhau nhưng bức tranh nào cũng bắt đầu bằng điệp từ “Buồn trông”. Đọc lên nghe sao mà não lòng, sầu bi, thương xót đến thế! Nỗi buồn ấy dường như chứa đựng sẵn trong lòng người, vậy nên khi nhìn vào cảnh vật, Kiều lại càng thấy buồn bã hơn, buồn đến vô cùng, càng ngắm nhìn lại càng thêm buồn thảm. Tâm trạng đau thương, buồn tủi của Kiều đã thấm sang cảnh vật khiến nó cũng nhuốm màu thê lương giống như nàng lúc này. Cảnh vật ấy quả thực hợp với nàng hay do lòng nàng mà nên!

Trước khi gặp gia biến, Kiều sống trong cảnh “Êm đềm trướng rủ màn che”, nàng có buồn nhưng cái buồn ấy chỉ là sự thoáng qua, cái buồn bã của một thiếu nữ khuê các. Nhưng giờ đây, trải qua bao biến cố, bao đau khổ, ngồi một mình nơi này, nàng mới thấy cái buồn đang thấm vào tim gan của nàng, gieo rắc cho nàng một nỗi buồn dai dẳng, kéo dài tới tận cuộc đời phía trước.

Biến cố bắt đầu tất cả từ khi nàng phải bán mình chuộc cha, phải rời xa tình yêu đầu đời Kim Trọng, xa nhà, xa quê hương, xa cả gia đình êm ấm, rồi bị làm nhục, bị đưa vào lầu xanh, bị lừa, bị đánh đập, tất cả cứ liên tiếp, liên tiếp xảy đến với nàng. Như thế hỏi sao nàng không buồn được chứ? Nhưng cái buồn ấy cũng chỉ mới thoảng đến thoảng đi, bởi nàng còn chưa kịp hoàn hồn trước biến cố này thì biến cố khác đã ập tới. Để đến tận giờ đây, ngồi lại một mình yên tĩnh, nàng mới có cơ hội được thấm cái buồn trong số mệnh của mình. Quả thực là buồn bởi ngay từ những dòng thơ đầu tiên, người ta đã thấy Kiều thơ thẩn một mình ngoài hàng hiên của lầu Ngưng Bích, ngắm những cảnh vật xa xăm, khi bốn bề thật là vắng lặng, quạnh quẽ đến vô cùng. Không gian ấy dội vào lòng Kiều những nỗi buồn khó tả.

Nàng nhớ Kim Trọng, nhớ mẹ cha, nhớ nhà. Tất cả nỗi nhớ ấy hòa quyện đượm lên nỗi buồn của nàng, thấm thía làm sao. Và Nguyễn Du đã thật tinh tế khi gợi lên nỗi buồn ấy của nàng bằng một từ thật mộc mạc, chân thật quá đỗi: “Buồn trông”. Vì buồn nên trông nên ngắm nhưng càng trông càng ngắm lại càng thấy buồn. Hai tiếng ấy dội vào lòng người thật thê lương biết bao! Để đến giờ đây, nàng ngắm đâu nhìn đâu cũng thấy cảnh vật thật buồn bã.

Bức tranh đầu tiên hiện lên trước mắt chúng ta:

 “Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”

Ghé mắt nhìn về cửa bể, Kiều hy vọng cảnh vật sẽ mang lại chút niềm vui cho mình, nhưng lại bắt gặp khung cảnh “của bể chiều hôm”. Hai từ “chiều hôm” đã đủ để gợi lên cảm giác sầu muộn. Vì lúc này, ánh mặt trời đã sắp lụi tàn, chỉ còn lại chút ánh sáng nhạt nhòa thoi thóp trên mặt nước bể. Một dải nước bao la choáng ngợp ánh nhìn, nó cứ hút mãi tầm mắt ra xa, càng trông lại càng thấy vô tận. Ngoài kia, chỉ là một miền trống vắng đến hoang hoải, khi bầu trời chuyển mình vào màn đêm.

Dường như không có gì đáng để nhìn thấy, nhưng Kiều vẫn "thấp thoáng" một chiếc thuyền với "cánh buồm xa xa". Trái ngược với hình ảnh thường thấy của đoàn thuyền tấp nập, ở đây chỉ có một chiếc thuyền đơn lẻ giữa cửa biển xa xăm. Chiếc thuyền mơ hồ, lẻ loi, gợi lên câu hỏi trong tâm trí Kiều: thuyền này đang trôi về đâu? Có lẽ nó cũng đang trôi vào sự cô đơn, lạc lõng giống như Kiều. Và chiếc thuyền đang dần mất hút về phía chân trời, chỉ còn lại chiếc buồm "thấp thoáng" ngoài xa. "Thấp thoáng" - một từ khiến người ta cảm thấy mơ hồ, như một ảo ảnh của con người. Tâm trạng nặng nề, cảnh vật khiến lòng Kiều thêm thấm thía, buồn tủi hơn.

Ngoảnh mặt sang phía bên kia của góc lầu, Kiều muốn tìm một khung cảnh khác tươi vui hơn, nhưng:

“Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu”

Kiều chỉ muốn tìm một khoảnh khắc tươi vui giữa sự sầu muộn đang bủa vây lấy mình, nhưng dường như mọi khao khát ấy chỉ là mong ước xa vời. Nàng ngoảnh đi ngoảnh lại, nhưng khung cảnh nào cũng đầy sầu đau đến không thể chịu đựng nổi.

Một ngọn nước đang ầm ầm từ trên cao tuôn xuống, dòng nước tuôn chảy dữ dội, sôi trào như biểu tượng cho cuộc sống đầy biến động và khắc nghiệt của Kiều. Nàng không thể không cảm thấy xót xa khi nhìn thấy cảnh tượng đó. Nhìn con nước ấy, Kiều lại càng thêm buồn thương, như một trái tim bất lực đứng trước sức mạnh tàn ác của số phận.

Bất ngờ, nàng bắt gặp một cánh hoa đang xoay tròn trên dòng nước xiết. Cánh hoa ấy mỏng manh, yếu đuối, bất lực giữa những xoáy nước hung dữ, giống như nỗi số phận tàn nhẫn của chính Kiều. Cánh hoa ấy không biết phải đi về đâu, không thể thoát ra khỏi dòng nước, và cuối cùng, nó sẽ tan nát giữa cuộc sống vô tình. Từ láy “man mác” được Nguyễn Du khéo léo dẫn vào câu thơ, gợi lên một nỗi buồn thật khó tả, như một tiếng kêu thầm của những linh hồn mất mát trong cuộc đời.

Cánh hoa ấy dập dềnh, man mác, gợi lên một nỗi buồn mơ hồ, không rõ nguồn gốc, không biết phải chịu đựng hay trốn tránh. Nó có thể là biểu tượng cho nỗi buồn của cánh hoa rơi giữa dòng nước dữ, hay nỗi buồn cho chính số phận lênh đênh của mình giữa dòng đời dài rộng.

“Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt nước một màu xanh xanh”

Hai lần ngoảnh mặt giữa khoảng không vô định là hai lần Kiều bắt gặp những cảnh vật thật vàng võ, thật sầu thảm giống y như cuộc đời của nàng. Lần thứ ba ngoảnh mặt, bức tranh cảnh vật lại càng thêm bi thương hơn nữa:

“Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng vây quanh ghế ngồi”.

Dường như ba bức tranh trước đó chỉ là những phông nền, những chuẩn bị cho một trạng thái tinh thần buồn rầu dâng trào ở bức tranh thứ tư này. Một vùng biển mênh mông, tối tăm ăn sâu vào bờ đất, như một biểu tượng cho sự không rõ ràng, u ám của cuộc sống. Biển lớn mênh mang bên ngoài, gió biển cuồn cuộn, hút sâu vào như làm sâu thêm tâm trạng u uất. Âm thanh của biển đầy khủng khiếp, ầm ầm, rung chuyển, cuộn trào bọt tung trắng xóa, như tiếng gào thét của những linh hồn bất hạnh. Tiếng sóng dữ dội đang vây quanh Kiều, khiến nàng không còn cảm thấy ở trong lầu Ngưng Bích yên bình nữa, mà như một phần của biển, như một phần của nỗi buồn vô hạn.

Trong lòng Kiều, nỗi lo lắng, cảm khái và sợ hãi trước tương lai bao trùm. Những con sóng biển kia có thể là biểu tượng cho những khó khăn, sóng gió của cuộc đời đang đổ về nàng, làm nàng cảm thấy cuồng nộ, lo lắng cho tương lai không rõ ràng của mình. Điều này có thể là lời cảnh báo từ Nguyễn Du, muốn báo trước cho Kiều về số mệnh không dễ dàng của một người con gái tài hoa nhưng tràn ngập gian nan.

Ba bức tranh trước đó, con người và cảnh vật luôn tồn tại một cách tách biệt, nhưng ở bức tranh thứ tư, họ lại hòa quyện vào nhau. Nỗi buồn của con người đã lan toả sang cảnh vật, khiến cho nó càng thêm u uất, đau đớn. Sự tột đỉnh của nỗi buồn có thể khiến con người muốn trốn tránh, muốn thoát khỏi cái bóng đen của nó. Điều này có thể giải thích tại sao sau này Kiều lại dại dột nghe theo lời Sở Khanh, và cuối cùng, bị hắn lừa gạt.

Kết thúc với bốn bức tranh này, đọc giả không thể không bị ấn tượng bởi điệp từ "buồn trông". Trong tâm trạng buồn tủi, chán chường, mọi khung cảnh đều tràn ngập bởi sự u ám, thê lương. Điệp từ này không chỉ là một từ ngữ, mà còn là cách Nguyễn Du gợi lên hình ảnh nội tâm của Kiều, mở ra những bức tranh tâm trạng của nàng, và dự báo về những khó khăn phía trước của cuộc đời nàng.

 

Mẫu 03. Phân tích cái hay của điệp ngữ Buồn trông trong Kiều ở lầu Ngưng Bích

Truyện Kiều của Nguyễn Du không chỉ là một trong những tác phẩm lớn và xuất sắc nhất của văn học Việt Nam mà còn là một biểu tượng của nghệ thuật sáng tạo và tinh thần nhân văn. Để tạo nên tuyệt phẩm này, Nguyễn Du đã khéo léo sử dụng các phép tu từ và bút pháp tả cảnh ngụ tình, đặc biệt là trong đoạn thơ miêu tả tâm trạng của Kiều ở lầu Ngưng Bích.

Tám câu thơ cuối trong đoạn trích miêu tả Kiều ở lầu Ngưng Bích không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn là một bức tranh tinh tế về tâm trạng uất ức, cô đơn và hy vọng của nhân vật chính. Những từ ngữ và hình ảnh được Nguyễn Du sắp xếp một cách tinh tế, sinh động, từ đó diễn tả rõ nét tâm trạng của Kiều khi bị giam lỏng.

Trong những câu thơ này, Nguyễn Du đã sử dụng các phép tu từ một cách tinh tế và đầy ẩn dụ. Từ "đêm" và "khuya" không chỉ là thời gian mà còn là biểu tượng cho sự u tối và cô đơn của Kiều. Cảnh mặt trăng "phai, phai" làm tăng thêm bầu không khí u ám, buồn bã của tình trạng Kiều. Sự "đất trời" như hòa quyện vào nhau, tượng trưng cho sự khắc nghiệt của cuộc sống và tình trạng bế tắc của Kiều.

Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

Chăn mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Khung cảnh thiên nhiên của cửa biển trước lầu Ngưng Bích như hiện lên trước mắt ta: một nỗi buồn chiều hoàng hôn đẹp nhưng buồn và quạnh hiu. Đó là những con thuyền với những cánh buồm trắng nhấp nhô, con sóng bạc dập dềnh cuốn trôi từng cánh hoa, lác đác rơi trong ánh nắng cuối chiều, trảng cỏ xanh ươm nối liền đường chân trời xanh vô tận. Cùng với âm thanh dữ dội của biển khơi như một nét chấm phá cho cảnh vặt, bức tranh thiên nhiên chứa dựng trong nó biết bao nỗi niềm chất chứa của con người...

Qua những ngôn từ và hình ảnh miêu tả cảnh vật, bằng cách sử dụng khéo léo và tinh tế bút pháp tả cành ngụ tình, Nguyễn Du đã cho ta hiểu và cảm thương với tâm trạng nàng Kiều. Điệp ngữ "buồn trông" được sử dụng xuyên suốt đoạn trích tạo thành điệp khúc cho đoạn thơ và cũng tạo nên điệp khúc tâm trạng Thuý Kiều. Nỗi buồn trong Kiều như trào dâng như lớp sóng ồ ạt dồn về phía đại dương mênh mông. Nỗi niềm đó cứ triền miên, cứ dai dẳng, đeo bám, tạo thành cái vòng luẩn quẩn khỏng lối thoát, con người ta có muốn vùng thoát ra mà cũng không thể nào được. Mỗi cảnh vật như đều nói lên nỗi niềm tâm sự ấy.

Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Con thuyền ẩn hiện giữa dòng nước, không hướng về bến bờ, không chốn nương tựa, nó như một biểu tượng sống động của sự lang thang, của nỗi nhớ nhung, và cảm giác cô đơn u buồn của những người bị cuốn đi xa xôi. Trong cuộc hành trình dài đầy gian truân và khổ đau của Kiều, con thuyền ấy trở thành biểu tượng hoàn hảo cho khát khao trở về nơi gia đình, nơi bạn bè thân thương, nơi có sự ấm áp và bình yên. Điều này không chỉ phản ánh chân thực tâm trạng của Kiều mà còn làm cho độc giả cảm nhận sâu sắc hơn về nỗi lòng khao khát tự do và hạnh phúc trong cuộc sống.

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Cuộc đời Kiều lúc này như một cánh hoa mỏng manh giữa biển cả khổng lồ của những sóng to và gió lớn, không cách nào tránh khỏi việc bị cuốn trôi, sóng vùi dập, gió thổi tung hoành. Những câu thơ nổi lên như là tiếng kêu trống trải lòng, truyền đạt điều gì đó xót xa, đau đớn và lo lắng về cuộc sống lênh đênh, không biết đâu là bến bờ vững chắc giữa những sóng gió của đời.

Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Thảm cỏ xanh mướt trải dài không gian, nhưng trong mắt Kiều, nó lại không còn mang đến sự tươi vui mà thường thấy. Thay vào đó, màu xanh ấy trở nên u ám và ảm đạm, như một tấm bức trầm buồn của cuộc sống. Biển cả xa xôi với màu xanh vô vọng càng làm tăng thêm nỗi buồn trong lòng. Có thể nhìn thấy từ xa những dải sóng vỗ tung bọt trắng, nhưng cảnh tượng đó lại không đem lại sự hân hoan, mà thay vào đó là một cảm giác hoang mang và trống rỗng.

Trước bức tranh này, Kiều cảm thấy như mình đang đứng trước cánh cửa của tương lai, nhưng không phải là cánh cửa mở ra một tương lai tươi sáng mà là cánh cửa đang dần khép lại. Cảm giác như một hố đen tuyệt vọng đang chờ đợi, lấp kín mọi ước mơ và khát khao của cô, khiến cho tương lai trở nên u ám và không biết đâu là lối ra.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.

Trước cảnh biển xanh cuộn sóng, không khí trở nên kinh khủng và hãi hùng, như một dấu hiệu tiên tri cho một bi kịch đang chờ đợi, sẵn sàng đổ xuống lên số phận nhỏ bé của Kiều. Âm thanh cuồn cuộn, rợn người, truyền đạt cảm giác nguy nan và tai hoạ, như muốn châm ngòi cho sự lo sợ và tuyệt vọng trong tâm trí của Kiều. Câu hỏi tu từ vọng lên, mỗi câu như một vòng xoáy, kéo đẩy người đọc sâu vào tâm can, gợi lên sự đồng cảm, thấu hiểu và sự thương xót về những lo lắng và nỗi kinh hoàng trước tương lai không biết đâu là lối thoát.

Có lẽ, đây chính là tám câu thơ tả cảnh ngụ tình tuyệt vời nhất trong Truyện Kiều. Thông qua hình ảnh thiên nhiên, chúng ta cảm nhận được nỗi đau lòng, nỗi bi thương của một người phụ nữ tài năng bị ràng buộc bởi số phận, đồng thời thể hiện sự đồng cảm, tôn trọng của Nguyễn Du đối với số phận của phụ nữ trong xã hội phong kiến cũ.

Quý khách xem thêm bài viết sau: 

- Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du siêu hay

- Phân tích tâm trạng Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích chi tiết nhất