Bài phân tích tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa xuân chọn lọc hay nhất

Nhà văn Nam Cao từng nói: " Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật chỉ có thể là những tiếng nói đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than. " Đúng như Nam Cao nói một tác phẩm văn học có giá trị khi nó lên tiếng vì con người, ca ngợi và bảo vệ con người, nhận thức được điều này, Tô Hoài đã cho ra đời tác phẩm " Vợ chồng A Phủ" với hiện thực cuộc sống nghèo khổ, bị áp bức bóc lột của người dân vùng cao. Đặc biệt với Mị - nhân vật trung tâm xoay quanh câu chuyện đại diện cho cả một tầng lớp, số phận con người bất hạnh. Cũng chính Mị đã cho chúng ta thấy rằng sức sống mạnh mẽ, sự phản kháng không cam chịu số phận của con người nơi đây, điều đó được thể hiện chi tiết qua hình ảnh Mị trong đêm mùa đông cởi trói cho A Phủ.

Tô Hoài - nhà văn được mệnh danh là " hạt ngọc của văn học Việt Nam ", ông có tuổi thơ và thời trai trẻ phải lăn lộn kiếm sống bằng nhiều nghề và nhiều khi thất nghiệp, điều đó đã tạo cho ông một vốn sống, sự trải nghiệm vô cùng phong phú, đó là nền tảng để ông cho ra đời những đứa con tinh thần gần gũi, chân thật với cuộc sống đời thường.

Trần Hữu Tá từng nhận xét Tô Hoài rằng: " có thể nói Tô Hoài có một nhãn quan phong tục đặc biệt nhạy bén, sắc sảo. Trước cách mạng tháng Tám, viết về nông thôn, ông đã cho độc giả biết thế nào là tục tảo hôn, nạn nặc nô đòi nợ, cách chữa bệnh theo lối mê tín, tục lệ giỗ, tết, ma chay,... Sau cách mạng tháng Tám, Tô Hoài đặc biệt chú ý đến những phong tục độc đáo của các dân tộc miền núi Tây Bắc, Đặc biệt là dân tộc H'mông: những phong tục đầu xuân như cách ăn mặc, lối vui chơi, những tục lệ kỳ quái man rợ có tính chất trung cổ do đế quốc, phong kiến duy trì... Tuy nhiên việc mô tả phong tục dù quan trọng thế nào đi nữa cũng không lấn át được ý nghĩa xã  hội."  Thật vậy, hầu như các tác phẩm trước cách mạng của ông chủ yếu là về người nông dân nơi vùng quê sống trong cảnh nghèo khổ, đói khát như: Dế Mèn phiêu lưu kí (1941); Quê người (1941); O chuột (1942); Nhà nghèo  (1943); Sau cách mạng, ông có những bước chuyển mạnh mẽ về cả phong cách và tư tưởng với những trang văn phản ánh cuộc sống cơ cực của nhân dân dưới ách thống trị tàn bạo của giặc xâm lược như: Xuống làng (1950); Truyện Tây Bắc (1953); Quê nhà (1981); 

Tập "Truyện Tây Bắc" được sáng tác vào năm 1953, ra đời trong chuyến đi của ông với bộ đội trên Tây Bắc, ở đây ông đã có dịp ăn ở cùng đồng bào miền núi Tây Bắc chính điều này đã giúp ông tìm được cảm hứng khi cho ra đời tác phẩm. Từ hiện thực cuộc sống, bức tranh xã hội trong cảm quan của Tô Hoài đã trở nên hiện thực hơn với những nét đẹp văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc pha lẫn những phong tục tập quán, tập quán lạc hậu là nguyên do dẫn đến bao cảnh đời cơ cực. Tuy nhiên không vì thế mà Tô Hoài lựa chọn né tránh sự thật thay vào đó ông còn tái hiện lại một cách chân thực nhất những khổ nhục, những nỗi đau thương của người lao động vùng cao dưới ách thống trị của bọn phong kiến tay sai.

" Vợ chồng A Phủ" là một trong ba tác phẩm được in trong tập " Truyện Tây Bắc". Đây là câu chuyện xoay quanh về cuộc đời nhân vật Mị - một cô gái người Mông  xinh đẹp và tài hoa. Nhưng trớ trêu thay, khi lớn lên vì món nợ của bố mẹ mãi chưa trả dứt, Mị bị A Sử bắt về làm dâu gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Mị định tự tử nhưng vì thương cha, Mị không đành lòng chết. Cuộc sống trâu ngựa ở nơi đây đã làm héo mòn một cô Mị  xinh đẹp, vui tươi trở nên vô cảm và chai lì. Rồi lại đến mùa xuân năm nay Mị đã nghe thấy tiếng sáo gọi bạn, Mị uống rượu, hơi rượu đã làm cho tâm hồn Mị phơi phới trở lại nhưng nó đã bị dập tắt ngay khi Mị bị A Sử trói. A Sử không biết rằng, hắn chỉ trói được thể xác Mị còn tâm hồn Mị vẫn đung đưa theo tiếng sáo gọi bạn,và rồi hành động tự phát và quyết định nhất của Mị là cởi trói cho A Phủ tự giải thoát lấy mình.

Trước khi bị bắt về làm dâu nhà thống lí, Mị dù sống trong hoàn cảnh nghèo khổ, nhưng cô vẫn lớn lên khỏe mạnh và xinh đẹp, vẻ đẹp ấy khiến bao chàng trai phải gục ngã, si mê: " trai đứng nhẵn vách đầu buồng Mị'. Không chỉ xinh đẹp Mị còn biết thổi sáo:" Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo". Tiếng sáo của Mị như tiếng lòng trong trẻo, có biết bao người ngày đêm thổi sáo theo sau Mị.  Tô Hoài đã vẽ ra hình ảnh người con gái dân tộc với vẻ đẹp đắm say, nhưng " hồng nhan bạc phận" có phải những người con gái tài sắc thường chịu chung một phận đắng cay? Ngay tư đầu câu chuyện hình ảnh Mị hiện lên vô cùng não nề, kiếp phận không bằng con trâu, con ngựa. Xây dựng hình ảnh một cô gái xinh đẹp ắt hẳn tác giả phải có chủ đích, bởi nhà văn mong muốn tái hiện những mảnh hồn riêng biệt của nơi đây mà ông may mắn gắn bó đồng thời qua nhân vật Mị ông cũng khéo léo cất lên tiếng nói công bằng cho những cô gái nơi đây. Nhưng quan trọng hơn hết ông muốn tôn lên nét đẹp tính cách, tâm hồn và sức phản kháng mãnh liệt bên trong  của nhân vật. Vậy mà tại sao một con người xinh đẹp tài hoa lại hiếu thảo như vậy lại mang trong mình sức sống tiềm tàng,kỳ lạ? Không chỉ xuất hiện với vẻ đẹp tài sắc vẹn toàn, Mị còn là người con gái tài đức với khát khao tự chủ, tự do và tình yêu đến từ trái tim mình. Mị đã sớm ý thức được rằng chỉ có tình yêu mới mang lại hạnh phúc thật sự. Mị không tham lam vật chất, không muốn  " một bước lên mây" làm dâu nhà giàu, bởi cô hiểu rằng, cả cuộc đời còn lại sẽ cầm roi chạy theo đuôi ngựa nhà chồng. Mị cũng đã thẳng thắn nói với bố mình rằng " Con nay đã biết cuốc nương làm ngô giả nợ cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu".

Sau khi trở thành dâu gạt nợ, Mị muốn tự giải thoát cho mình bằng cái chết, đây có thể là lối thoát "đen", suy cho cùng đây là một hành động tiêu cực, nhưng trong trường hợp của Mị thì đây đã là sự phản kháng len lỏi trong đầu cô. Những ngày về làm dâu, đêm nào Mị cũng khóc. Cuộc đời nào đâu dễ dàng như ý nghĩ của ta, dẫu khát khao được tự chủ và mong muốn lấy được người mình yêu, Mị vẫn phải cúi đầu trước số phận cuộc đời mình. Người Mị yêu là một chàng trai ngón tay có đeo nhẫn với tình yêu đó Mị được là chính mình, Mị được tự do và hạnh phúc,. Nhưng Mị không được sống với tình yêu đó, Mị lấy người mình không yêu làm chồng. Nhưng đó chưa phải bi kịch đau đớn nhất của cuộc đời Mị,bởi cuộc hôn nhân không có tình yêu này đã cướp đi tuổi xuân, cướp đi cuộc đời Mị. Sau khi về làm dâu nhà giàu Mị bị bóc lột sức lao động đến cạn kiệt, sống không bằng con trâu , con ngựa trong nhà chồng. Nhưng đó chỉ là nỗi đau về thể xác, Mị bị chính người chồng của mình đánh đập, hành hạ, tâm hồn Mị héo úa như con rùa rúc trong xó bếp. Vậy là chỉ sau một đêm, cuộc đời của người con gái ấy đã đi vào bế tắc, từ một cô gái trẻ trung, xinh đẹp trở thành con dâu nhà giàu nhưng cuộc đời lại éo le, ngang trái. Sợi xích của cái nghèo đã thôi đeo bám có, thay vào đó là sợi xích của hôn nhân không hạnh phúc và người chồng vũ phu.

Tưởng chừng như cuộc đời của Mị sẽ kết thúc ở đây, nhưng chính những âm thanh, màu sắc của mùa xuân đã làm cho người con gái ấy phơi phới trở lại. Sau những năm dài nằm nghe tiếng sáo văng vẳng bên tai, mùa xuân năm nay Mị đã uống rượu, hơi men đã làm Mị nghe được tiếng tim mình đập vẫn nóng hổi và thổn thức. Hơi men như chất xúc tác tâm hồn đã  kéo Mị về những ngày tháng tươi đẹp trước kia. Ngày đó cô còn là một người yêu đời, yêu tự do và khát khao tình yêu, giờ đây cô giam mình trong căn buồng chỉ bé bằng bàn tay trông ra ngoài còn không biết là sương hay là nắng. Âm thanh và cảnh vật mùa xuân đã thôi thúc trái tim Mị sống lại một lần nữa. Mị dần mở lòng mình ra sau bao nhiêu năm tháng không được là chính mình. Tâm hồn Mị hòa quyện vào tiếng sáo và hơi men, Mị muốn đi chơi,Mị muốn trở về những ngày tháng trước đây. Nhưng suy nghĩ đó đã bị dập tắt bởi A Sử đã trói cô vào cột nhà, sợi dây thừng đã kéo thể xác cô về hiện tại nhưng tâm hồn Mị thì vẫn mơ màng về tiếng sáo gọi bạn ngoài kia. Đêm ấy thật là một đêm có ý nghĩa với Mị. Đó là đêm cô thực sự sống cho riêng mình sau hàng ngàn đêm cô như cái xác không hồn, đêm ấy là đêm mà cô vượt lên uy quyền và bạo lực để sống theo tiếng gọi trái tim mình.

Sau đêm mùa xuân ấy, Mị lại tiếp tục cuộc sống của kiếp trâu ngựa, nhưng chi tiết này lại được đánh giá rất " đắt" nó được ví như " đốm than hồng" chỉ cần một làn gió nhẹ thổi qua là có thể bùng lên cháy  bất cứ lúc nào.

Và rồi luồng gió ấy cũng đã xuất hiện, đó chính là những đêm mùa đông dài  lạnh lẽo Tây Bắc đang về. Đối với người khác đêm nào Mị cũng vào bếp để thổi lửa hơ tay, gần với nơi mà A Phủ bị nhà thống lí bắt trói đứng đây, Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay bên cạnh một người sắp chết, thậm chí cô còn nghĩ rằng " nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi". Mị thản nhiên đến lạnh lùng, sự vô tâm của Mị như đang tiếp tay cho gia đình thống lí, cho chồng mình hãm hại người vô tội, liệu Mị đã trở thành một người nhẫn tâm? Sự thực thì Mị còn đang vô cảm với chính Mị, bởi chính cô còn là người bị chồng đánh ngã ở cửa bếp thế nhưng hôm sau vẫn ra thổi lửa hơ tay. Mị thậm chí còn chai sạn hơn, gan lì hơn và chẳng còn sợ những trận đòn roi nữa. Cô không còn đau, không còn oán thán, không còn rơi nước mắt cho mình nữa. Tác giả không khỏi xót xa cho nhân vật của mình, ông quá tinh tế khi miêu tả nội tâm Mị chuyển biến sâu sắc qua từng giai đoạn cuộc đời, để rồi qua đó, ta nhận ra rằng thế lực cường quyền và thần quyền đã giết chết hạnh phúc của biết bao người.

Tuy nhiên đã có một chi tiết làm thay đổi suy nghĩ của Mị, đó chính là dòng nước mắt của A Phủ đã làm hồi sinh lòng thương mình rồi đến thương người trong Mị. Nhờ ngọn lửa đêm ấy, Mị lén trông sang và nhìn thấy " một dòng lấp lánh bò xuống hai hõm má đá xám đen lại" của A Phủ. Nếu như trước đó, A Phủ là một chàng trai cường tráng, khỏe mạnh thì giờ đây sau nhiều đêm bị trói, dòng nước mắt kia  mang lại sự đắng chát của một thân phận nô lệ bất lực, tủi nhục trước cường quyền và thậm chí là tiền quyền. Những lưỡi dao vô hình đã cứa vào cuộc đời chàng trai trẻ, vết cắt ấy đã trở thành " chí mạng" khiến A Phủ bất lực trước tử thần. Bờ vực giữa sống và chết sao mong manh quá? A Phủ rơi nước mắt khẽ thương xót cho cuộc đời mình. Và kỳ diệu thay khi Mị nhìn thấy dòng nước mắt ấy, dòng nước mắt đã gột rửa trái tim băng giá của Mị, khiến lòng Mị xót xa. A Phủ đã chạm đến trái tim Mị, lòng thương người cùng cảnh ngộ trỗi dậy mạnh mẽ trong Mị. Tâm lý của Mi đã chuyển biến từ một con người vô cảm sang đồng cảm, nhìn A Phủ, Mị lại nghĩ đến chính mình. Mị thì có khác gì hơn? Mị lại nhớ đến lần A Sử trói Mị, " Mị cũng bị trói đứng như thế, nhiều lần khóc nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không lau đi được".Cảm giác giờ đây đã sang A Phủ, Mị ngẫm nghĩ, rồi lại " hồi sinh" trong tâm thức.

Mùa xuân năm trước, Mị bị trói và nghĩ phận mình cũng sẽ như những người đàn bà ngày trước đã chết ở đây. Mùa đông năm nay, Mị nhìn A Phủ bị trói, cô đã căm phẫn nhớ lại những phận người ấy một lần nữa. "  Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó cũng bắt mình chết thôi". Mị nhận ra rằng tình hình A Phủ đang rất nguy khốn " cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết', Mị tự hỏi mình rằng Mị đang chứng kiến một người bằng xương, bằng thịt từng bước chết trước mặt mình, điều đó đã ngộ ra cho Mị sự vô lý và bất công rằng "người kia việc gì phải chết, chính chúng nó, chúng nó thật độc ác - những bọn chúa đất miền núi, những kẻ thống trị ngang tàn, bọn chúng đã đày đọa, ức hiếp và đối xử tàn bạo với những người lương thiện như Mị, như A Phủ và còn rất nhiều người khác nữa.Tình thương đã chiến thắng nỗi sợ hãi, nỗi đồng cảm ấy đã thôi thúc người con gái vô tâm ấy đi đến hành động cởi trói cho A Phủ. Sự tàn ác của bọn giai cấp thống trị đã trở thành động lực để Mị dũng cảm  " Mị rút con dao găm cắt lúa, cắt nút dây mây" giải cứu A Phủ. Nhưng Mị sẽ ra sao sau khi cứu A Phủ? Giong văn của Tô Hoài mạnh mẽ, một loạt hành động nối tiếp nhau, từ đó cho độc giả thêm tin vào bản chất tốt đẹp trong mỗi con người, tin rằng nó sẽ được thức tỉnh, nó sẽ không ngừng hành động hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Sau khi cứu A Phủ để đi đến hành động cứu mình, Mị đã phải đấu tranh tư tưởng một cách quyết liệt " Mị đứng lặng trong bóng tối" Câu văn ngắn được tách thành một đoạn riêng biệt tạo nên một điểm dừng. Tâm trí Mị lúc này chỉ xoay quanh những lựa chọn giữa đi và ở lại, giữa sự sống và cái chết, giữa cuộc sống tự do và cuộc đời nô lệ. Chính Mị đã mở ra con đường sống, khai thông ánh sáng cho A Phủ. Lúc này đây ngay trước mặt Mị là ánh sáng của tự do, của hạnh phúc mà từ lâu cô vẫn hằng mong ước. Hành động giờ đây của Mị sẽ quyết định cuộc sống của cô sau này.

Khát khao tự do đã thôi thúc Mị chạy theo A Phủ, đạp đổ cường quyền và thần quyền, vùng lên giải phóng bản thân " rồi Mị cũng chạy  vụt ra". Mị lựa chọn nhanh chóng, dứt khoát biến đó thành hành động tự cứu lấy mình. Mị bỏ lại tất cả và chạy theo A Phủ, đây không phải tiếng gọi của tình yêu mà là khát khao của hạnh phúc, khát khao của tự do. " Trời tối lắm" tối như cuộc đời, số phận của Mị " nhưng Mị vẫn băng đi". Mị đã tự giải thoát khỏi gông xiềng bạo lực. Mị vốn là một cô gái mạnh mẽ, bản lĩnh và đầy quyết đoán, Mị nhận thức được rõ về thực tại, Mị biết mình cần phải làm gì. Cảm xúc của Mị hoàn toàn rõ ràng,hành động của Mị được dẫn dắt bằng lý trí chứ không phải là " tiếng sáo " hay ' men rượu", lý trí Mị mách bảo rằng xã hội này quá bất công điều cần làm là phải đứng lên tự giải thoát cho mình khỏi cuộc sống lạnh lùng, tàn bạo này.

Rõ ràng trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàng đóng vai trò quan trọng tạo nên bước ngoặt trong nhân vật. Điều này đã giúp Mị vượt lên khỏi số phận đen tối của mình, việc cứu A Phủ đồng nghĩa với việc tự cứu lấy mình. Qua đoạn trích trên, tác giả đã ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ miền núi nói riêng và những người phụ nữ Việt Nam nói chung. Ông đã xót thương, cảm thông cho số phận hẩm hiu, bất hạnh không lối thoát của nhân vật, thế những ông cũng không ngừng ca ngợi đốm lửa nhỏ còn sót lại trong trái tim băng giá của cô. Tư tưởng nhân đạo của nhà văn sáng lên ở đó, đồng thời qua tác phẩm, Tô Hoài cũng khẳng định được chân lý ở đời: ở đâu có áp bức bất công thì ở đó có sự đấu tranh.

Có một điều đặc biệt ở tác phẩm này khác với những tác phẩm trước năm 1945, nếu như trước năm 1945 hầu như các sáng tác của các nhà văn đều hướng nhân vật của mình đến đường cùng, không lối thoát như " Lão Hạc"," Tắt đèn"..thì sang đến giai đoạn này, các nhân vật đã được mở ra một hướng đi mới, tìm được lối thoát cho bản thân, như " Vợ nhặt". Đây là một chi tiết nổi bật, hấp dẫn và rất mới mẻ có trong những sáng tác sau 1945.

Bằng các bút pháp tả thực sắc sảo, nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật tinh tế, Tô Hoài đã xây dựng thành công nhân vật Mị với sức sống tiềm tàng nhưng mãnh liệt. Nhân vật Mị chính là điểm sáng trong toàn bộ bức tranh tiềm tàng, vươn lên mạnh mẽ. 

 Việc miêu tả số phận của các nhân vật nhà văn đã làm sống lại trước mắt người đọc quãng đời tủi nhục, cơ cực của người lao động miền núi dưới áp bức của bọn phong kiến tay sai, qua đó ca ngợi tinh thần phản kháng mãnh liệt, biết đứng dậy đấu tranh giành lại cuộc sống tự do của họ. Khép lại những trang văn của Tô Hoài, người đọc như vẫn cảm nhận được hình ảnh của Mị với bề ngoài tiều tụy , vô hồn nhưng bên trong lại chứa đựng một tinh thần phản kháng mãnh liệt, niềm tin vào bản thân, vào cuộc sống dù cuộc sống có ra sao.

Hy vọng bài viết trên của Luật Minh Khuê đã cung cấp cho quý bạn đọc những kiến thức hữu ích. Trân trọng cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi!