1. Pháp luật là gì?

Pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước đặt ra (hoặc thừa nhận) có tính quy phạm phổ biến, tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức và tính bắt buộc chung thể hiện ý chí của giai cấp nắm quyền lực Nhà nước và được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội.

 

2. Nhân dân lao động là gì?

Nhân dân lao động là các nhân trực tiếp tham gia vào quá trình lao động, có thể là làm việc bằng sức lao động hay là lao động trí óc, thông qua hành vi lao động trên thực tế mà được trả lương, làm việc dưới sự quản lý của người sử dụng lao động.

 

3. Pháp luật nước ta thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động trên?

A. Hoạt động Lập pháp

B. Hoạt động Hành pháp

C. Hoạt động Tư pháp

D. Tất cả mọi hoạt động

→ D

 

4. Cơ sở của nguyên tắc nhân dân tham gia quản lý nhà nước.

Ngyên tắc trên xuất phát từ bản chất của nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, mang tính dân chủ sâu sắc cao độ. Để thể hiện đúng bản chất vốn có, nhà nước ta cho phép nhân dân lao động được tham gia các hoạt động quản lý nhà nước (Bao gồm cả hoạt động quản lý hành chính nhà nước).

Với sự kế thừa tư tưởng truyền thống "lấy dân làm gốc", nhà nước ta coi trọng việc mở rộng và phát huy không ngừng quyền làm chủ của nhân dân. Cùng với yêu cầu của công cuộc đổi mới, hội nhập, dân chủ hóa đời sống xã hội và hoạt động của Nhà nước v.v...đòi hỏi phải mở rộng hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân. Do đó việc tham gia đông đảo vào quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước nói riêng là một xu thế tất yếu, đáp ứng yêu cầu của thời đại và lưu giữ được giá trị truyền thống tốt đẹp của đất nước.

Xuất phát từ bản chất dân chủ sâu sắc, nguyên tắc trên được nhà nước ta thừa nhận và bảo đảm thực hiện. Sự thừa nhận đó được thể hiện thông qua những quy định trong Hiến pháp cũng như trong các văn bản pháp luật.

Điều 3 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 khẳng định: "Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân..." Như vậy, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi nhận những quyền lợi cơ bản chính đáng của công dân bao gồm cố quyền được tham gia hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói riêng. Việc tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước, trong đó có việc quản lý hành chính nhà nước của nhân dân lao động được quy định một cách khái quát tại Điều 28 như sau: "1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước. 2. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân".

 

5. Cách thức nhân dân tham gia quản lý nhà nước

 5.1 Nhân dân tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước

Hệ thống các cơ quan trong bộ máy nhà nước là công cụ thực hiện quyền lực nhà nước. Vì vậy, tham gia vào hoạt động cảu các cơ quan này là hình thức người lao động tham gia tích cực, trực tiếp và có hiệu quả vào hoạt động hành chính nhà nước. Người lao động có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật được tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước và trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội.

Thứ nhất, người lao động có thể tham gia vào quyền lực nhà nước với tư cách là thành viên của cơ quan quyền lực nhà nước - người địa diện được bầu ra. Với vai trò này, người lao động trực tiếp xem xét và quyết định các vấn đề lớn của quốc gia và địa phương, bao gồm cả các vấn đề quản lý hành chính nhà nước.

Ngoài ra, người lao động có thể tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước khác (cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan kiểm sát, cơ quan tư pháp) với tư cách là cán bộ, công chức. Nhân dân lao động với tư cách là cán bộ, công chức nhà nước sẽ trực tiếp sử dụng quyền lực nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước khác nhau, thể hiện vai trò làm chủ nhà nước và làm chủ xã hội của mình. Họ sẽ có mọi điều kiện để biến mong muốn, khát vọng của mình thành hiện thực, thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

 

 5.2 Tham gia hoạt động của các tổ chức xã hội

Sự ra đời, tồn tại và phát triển của các tổ chức xã hội có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của một quốc gia. Là một bộ phận của hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội đã có nhiều đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Các tổ chức xã hội có nhiều hình thức và tên gọi khác nhau, chẳng hạn như công đoàn, tổng hiệp hội, liên đoàn và hiệp hội. Một số tổ chức xã hội tiêu biểu có thể kể đến như Liên đoàn Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh, Hội Nhà văn, Hội Nhà báo...

Các tổ chức xã hội này đã thu hút được đông đảo người dân lao động tham gia. Hãy lấy Hội Liên hiệp Phụ nữ làm ví dụ, tổ chức này đã thu hút gần 11 triệu hội viên tham gia. Các tổ chức xã hội có vai trò quan trọng trong việc giáo dục ý thức pháp luật cho mọi người, hơn hết là các thành viên của họ. Thông qua các quy định trong Điều lệ hoạt động của tổ chức xã hội, và thông qua các hoạt động giáo dục pháp luật thường xuyên và công khai cho các thành viên. Các tổ chức xã hội luôn hướng tới việc nâng cao nhận thức pháp luật của người dân. Đồng thời, hoạt động của các tổ chức này cũng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên.

 

 5.3 Tham gia hoạt động tự quản cơ sở

Ở nơi ở, sinh sống và làm việc, nhân dân lao động thường thực hiện các hoạt động tự quản. Đây là những hoạt động do họ tự thực hiện có quan hệ mật thiết với các công việc khác nhau là quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Các hoạt động tự quản cơ sở như đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, tổ chức đời sống công cộng gắn liền với đời sống của mỗi người dân và có ý nghĩa thiết thực.

Thông qua hoạt động tự quản mà nhân dân tích cực tham gia, quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội của nhân dân được pháp luật tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Nhà nước đã tạo điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhân dân lao động tham gia tích cực vào các hoạt động tự quản nêu trên.

 

 5.4 Trực tiếp thực hiện quyền, nghĩa vụ của công dân

Hoạt động kiểm tra, giám sát trực tiếp bộ máy nhà nước của nhân dân, nhất là ở cơ sở đã diễn ra nhiều chuyển biến tích cực.

Quyền trực tiếp kiểm tra, giám sát hoạt động của mọi cơ quan, công nhân viên chức của bộ máy nhà nước là quyền hiến định của công dân. Mặc dù chưa có cơ chế pháp lý hữu hiệu để nhân dân thực hiện quyền này một cách rộng rãi và đầy đủ, nhưng trong thời gian qua, sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với cán bộ, công chức nhà nước đã đạt được những kết quả nhất định. Qua kiểm tra, giám sát, nhiều người dân đã mạnh dạn tố cáo những việc làm trái pháp luật của cán bộ, công chức nhà nước của cơ quan có thẩm quyền và vấn đề đạo đức công vụ

Vừa rồi Luật Minh Khuê đã trình bày nội dung về Pháp luật nước ta thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động trên? Hy vọng đây sẽ là những thông tin hữu ích đối với quý bạn đọc. Xin chân thành cảm ơn!