1. Khái niệm 

ODA - Official Development Assistance là hình thức đầu tư nước ngoài, hỗ trợ phát triển chính thức. Gọi là “hỗ trợ” (viện trợ) vì hình thức đầu tư này không thu lãi suất hoặc thu lãi suất thấp trong thời gian vay dài. Mục tiêu của những khoản đầu tư này là để nâng cao phúc lợi và phát triển kinh tế cho nước nhận đầu tư nên gọi là “Phát triển”.  Gọi là “chính thức” vì hình thức này chỉ cho nhà nước vay.
Vốn ODA là gì?

Định nghĩa đầy đủ của ODA là: dòng chảy tài chính chính thức được quản lý với mục đích thúc đẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi của các nước đang phát triển là mục tiêu chính, có tính ưu đãi với yếu tố tài trợ ít nhất 25% (sử dụng tỷ lệ chiết khấu 10% cố định). Theo quy ước, dòng chảy viện trợ ODA bao gồm sự đóng góp của các cơ quan chính phủ tài trợ cho tất cả các cấp, cho các nước đang phát triển, cho các tổ chức đa phương. Biên lai ODA bao gồm các khoản giải ngân của các nhà tài trợ song phương và các tổ chức đa phương.
Vốn ODA là nguồn tiền mà chính phủ, các cơ quan chính thức các nước hoặc các tổ chức phi chính phủ, quốc tế cho các nước đang và kém phát triển vay để phát triển kinh tế - xã hội. Cầu Nhật Tân, nhà ga sân bay T2 Nội Bài… là những công trình của Việt Nam sử dụng nguồn vốn vay ODA của chính phủ Nhật Bản.

2. Phân loại vốn ODA

Vốn hợp tác phát triển chính thức gồm có: vốn hợp tác phát triển chính thức ràng buộc (chi tại nước viện trợ); vốn hợp tác phát triển chính thức không ràng buộc (chỉ ở bất kì nước nào); vốn hợp tác phát triển chính thức ràng buộc một phần (một phần chi ở nước viện trợ, phần còn lại chỉ ở bất kì nơi nào).

Vốn hợp tác phát triển chính thức phân loại theo góc độ “vay – trả” gồm có: viện trợ không hoàn lại; viện trợ hỗn hợp; viện trợ có hoàn lại.

Viện trợ không hoàn lại

Đây là hình thức vay vốn mà nước vay không phải hoàn trả lại. Mục đích nguồn vốn này sẽ được sử dụng để thực hiện các dự án cho nước vay theo thỏa thuận của 2 nước với điều kiện đó là các nhà thầu dự án sẽ do bên cho vay đảm nhận. Tuy nhiên có thể xem viện trợ không hoàn lại như một nguồn thu ngân sách của nhà nước. Được cấp phát lại theo nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Viện trợ có hoàn lại

Vay vốn với một lãi suất ưu đãi và một thời gian trả nợ thích hợp. Tín dụng ưu đãi chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng số vốn ODA trên thế giới. Nó không được sử dụng cho mục tiêu xã hội, môi trường. Mà thường được sử dụng cho các dự án về cơ sở hạ tầng thuộc các lĩnh vực giao thông vận tải, nông nghiệp, thủy lợi, năng lượng…Làm nền tảng vững chắc cho ổn định và tăng trưởng kinh tế. Các điều kiện ưu đãi bao gồm:

· Lãi suất thấp

· Thời gian trả nợ dài

· Có khoảng thời gian không trả lãi hoặc trả nợ.

Vốn ODA hỗn hợp

Là loại ODA kết hợp hai dạng trên, bao gồm một phần không hoàn lại và tín dụng ưu đãi.

3.Đặc điểm của nguồn vốn ODA

Nguồn vốn hợp tác phát triển

  • ODA là một hình thức hợp tác khác giữa chính phủ các nước phát triển, tổ chức quốc tế với các nước đang phát triển hoặc chậm phát triển. Đây là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc có chính sách vay với điều kiện ưu đãi.
  • Bên cạnh việc cho vay các khoản vay ưu đãi, bệnh viện trợ sẽ thực hiện cung cấp hàng hóa, chuyển giao khoa học kỹ thuật, cung cấp các dịch vụ khác… Bên nhận viện trợ phải có trách nhiệm sử dụng nguồn vốn vào các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng,…tạo điều kiện phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân.

Nguồn vốn có nhiều ưu đãi

  • Các khoản vay ODA có mức lãi suất rất thấp, chỉ dao động từ một vài phần trăm, nếu là ngân hàng thế giới thì khoản vay 0% một năm. Với mục tiêu hỗ trợ các quốc gia đang phát triển và kém phát triển, ODA có tính ưu đãi hơn bất kỳ một nguồn vốn nào khác, phải kể đến đó là: thời hạn vay dài trên 30 năm gắn với mức lãi suất tín dụng thấp, thời gian ân hạn tương đối dài,…

Đi kèm một số điều kiện ràng buộc

  • Các nước viện trợ vốn ODA đều có những chính sách, quy định ràng buộc khác nhau với nước tiếp nhận. Các nước viện trợ vừa muốn đạt ảnh hưởng về chính trị, vừa muốn đem lại lợi nhuận cho chính mình,…Bởi vậy mà những khoản ODA bao giờ cũng có những điều kiện nhất định về kinh tế, chính trị hay khu vực địa lý.

Một số bất lợi khi nhận nguồn vốn hỗ trợ ODA

  • Các nước phát triển khi thực hiện viện trợ ODA, đều có những mục tiêu nhất định về lợi ích kinh tế và chiến lược quốc phòng an ninh… Bởi vậy các nước nhận viện trợ ODA cần phải xem xét thật kỹ, khi nguồn vốn này mang lại khá nhiều bất lợi:
  • Về kinh tế: các nước nhận hỗ trợ ODA phải chấp nhận giữ bỏ hàng rào thuế quan và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hóa của nước tài trợ. Bên cạnh đó, phải thực hiện mở cửa thị trường bảo hộ cho danh mục hàng hóa mới của nước tài trợ, có những ưu đãi dành cho nhà đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào một số lĩnh vực hạn chế, sinh lời cao
  • Các nước nhận nguồn vốn ODA phải chấp nhận việc mua các sản phẩm từ các nước tài trợ mà không hoàn toàn phù hợp, không cần thiết đối với các nước này.
  • Khi nhận nguồn vốn ODA, các nước được viện trợ có toàn quyền quản lý và sử dụng, tuy nhiên các danh mục dự án ODA phải có sự thỏa thuận và đồng ý của nước viện trợ. Họ không trực tiếp điều hành dự án, nhưng họ có quyền tham gia gián tiếp thông qua việc làm chủ thầu, hỗ trợ chuyên gia.
  • Trong nền kinh tế thị trường biến động, tỷ giá hối đoái có thể gia tăng mà không lường trước được. Điều này có thể dẫn đến giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên.

4. Ưu điểm, nhược điểm về vốn ODA

-Ưu điểm

  • Đây là nguồn vốn vay có lãi suất thấp, thường dưới 2%/năm (trung bình khoảng 0.25%/năm). Vì thế đây là một nguồn vốn quan trọng đối với các nước đang và kém phát triển để phát triển kinh tế – xã hội
  • Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn vay dài (thường từ 25-40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn vay 8-10 năm).
  • Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA.
  • ODA là nguồn vốn rất quan trọng cho các nước chậm và đang phát triển để có thể ổn định đời sống xã hội và phát triển kinh tế.

-Nhược điểm

  • Về kinh tế, nước tiếp nhận hỗ trợ phát triển chính thức gần như phải dỡ bỏ dần dần hàng rào thuế quan bảo hộ đối với ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ. Nước tiếp nhận nguồn vốn này cũng sẽ được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho chính những danh mục hàng hoá mới của nước đưa vốn ODA; hoặc đưa ra các yêu cầu với những ưu đãi cho các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao.
  • Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo. Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới).
  • Nguồn vốn viện trợ còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ. Cụ thể là nước cấp vốn buộc nước tiếp nhận vốn phải chấp nhận một khoản viện trợ là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất.
  • Thực tế, dù nước tiếp nhận nguồn hỗ trợ phát triển chính thức có toàn quyền quản lý sử dụng nguồn vốn đó nhưng các danh mục dự án hỗ trợ phát triển chính thứuc cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia.
  • Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên đây là một điểm bất lợi cho nước nhận (ODA tính bằng ngoại tệ mạnh, nhưng đồng tiền nước nhận viện trợ thường mất giá mạnh, nhưng đồng tiền nước nhận viện trợ thường mất gí rất lớn vì vậy đến khi trả nợ, giá trị phải trả cũng rất lớn)
  • Trong quá trình sử dụng vốn, sẽ xảy ra tình trạng tham nhũng, thất thoát, lãng phí; việc xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút đầu tư và sử dụng nguồn vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý yếu kém, thiếu kinh nghiệm trong việc tiếp nhận, xử lý, điều hành dự án khiến cho chất lượng công trình, hiệu quả của công trình của dự án đầu tư này còn thấp, có nguy cơ đẩy càng nước đang và kém phát triển lâm vào tình trạng nợ nần.

5. Vai trò của ODA đối với nền kinh tế Việt Nam

-Thứ nhất, ODA là nguồn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển:

Hỗ trợ phát triển chính thức đã trở thành một nguồn vốn bên ngoài quan trọng để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển. Bên cạnh các khoản đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng kinh tế – kỹ thuật, một lượng lớn vốn viện trợ đã được sử dụng để đầu tư phát triển lĩnh vực giáo dục và y tế, hỗ trợ phát triển ngành nông nghiệp. Nguồn viện trợ được sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành nguồn lực bổ sung cho đầu tư tư nhân. Ở những quốc gia có cơ chế quản lý kinh tế tốt, ODA đóng vai trò như nam châm “hút” đầu tư tư nhân theo tỉ lệ xấp xỉ 2 USD trên 1 USD viện trợ. Đối với những nước đang trong tiến trình cải cách thể chế, ODA còn góp phần củng cố niềm tin của khu vực tư nhân vào công cuộc đổi mới của đất nước.

Thứ hai, ODA giúp tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực:

Thông qua những dự án hỗ trợ phát triển chính thức, các nhà tài trợ đã có các hoạt động giúp Việt Nam nâng cao trình độ khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực như: cung cấp tài liệu kỹ thuật, tổ chức hội thảo có sự tham gia của nhiều chuyên gia nước ngoài, cử cán bộ Việt Nam du học nước ngoài,…Từ đó sẽ đóng góp không nhỏ vào việc nâng cao trình độ khoa học, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam. Đây cũng được coi là lợi ích căn bản, lâu dài đối với Việt Nam.

Thứ ba, ODA giúp cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế:

Những dự án ODA mà các nhà tài trợ dành cho Việt Nam thường ưu tiên cho phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực, tạo điều kiện cho việc phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng khác nhau trong cả nước. Ngoài ra còn có một số dự án giúp Việt Nam cải cách hành chính, hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước cùng được nâng cao. Tất cả những điều đó đã góp phần đáng kể vào việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở Việt Nam.

Thứ tư, ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng đầu tư phát triển:

Các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định rót vốn đầu tư vào một nước thì điều đầu tiên họ quan tâm đến đó chính là khả năng sinh lợi của vốn đầu tư tại quốc gia đó. Vì thế mà đầu tư của Chính phủ vào việc nâng cấp, cải thiện và xây mới các cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng là điều vô cùng cần thiết giúp cho môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn.

Thứ năm, ODA giúp tăng cường năng lực thể chế:

ODA giúp các nước đang phát triển ở đây là Việt Nam tăng cường năng lực thể chế thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế.