1. Cơ sở pháp lý về kiểm soát loài ngoại lai xâm hại

- Luật Đa dạng sinh học năm 2008 sửa đổi năm 2018

- Nghị định 155/2016/NĐ-CP

- Nghị định 55/2021/NĐ-CP

- Bộ luật dân sự năm 2015

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2020

- Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017

2. Pháp luật kiểm soát loài ngoại lai xâm hại là gì?

Loài ngoại lai xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, làm mất câng bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển.

Pháp luật kiểm soát loài ngoại lai xâm hại là hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành quy định về việc quản lý, giám sát, loại trừ loài ngoại lai xâm hại nhằm phát hiện sớm, ngăn ngừa và loại rừ các tác động xấu của các loài ngoại lai xâm hại đó nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và sức khỏe con người.

Pháp luật về kiểm soát loài ngoại lai xâm hại điều chỉnh ba nhóm vấn đề cơ bản đó là:

(i) Các quy định về xác định và công khai thông tin về loài ngoại lai xâm hại;

(ii) Các quy định về nội dung, biện pháp kiểm soát loài ngoại lai xâm hại;

(iii) Các quy định xử lý vi phạm pháp luật về kiểm soát loài ngoại lai xâm hại.

3. Các quy định về xác định và công khai thông tin về loài ngoại lai xâm hại

Quy định về kiểm soát loài ngoại lai xâm hại tai Luật Đa dạng sinh học 2008 gồm 5 điều (từ điều 50 đến điều 54) quy định cụ thể về:

Điều tra và lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại (Điều 50):

Trong đó quy định cụ thể vè trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các Bộ ngành trong việc điều tra và lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại (bao gồm loài ngoại lai xâm hại đã biết và loài ngoại lai xâm hại có nguy cơ xâm hại). Việc ban hành một Danh mục loài ngoại lai xâm hại nhằm thực hiện công tác thống kê danh sách các loài ngoại lai xâm hại và loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại trên thực tế, làm cơ sở nhận biết chính xác những loài ngoại lai cần được ưu tiên kiểm soát và những loài ngoại lai cần tiếp tục theo dõi, phát hiện kịp thời để chủ động phòng ngừa và kiểm soát các đối tượng này, chủ động tìm kiếm các phương án kiểm soát và đối phó trước những tác động do loài ngoại lai xâm hại gây ra cho môi trường tự nhiên và cuộc sống của con người nếu danh sách này được điều tra và thống kê một cách đầy đủ thì sẽ là căn cứ chính xác và rõ ràng nhất cho các cơ quan quản lý trong quá trình kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm hại.

Tiêu chí xác định loài ngoại lai xâm hại và loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại và Danh mục (Điều 1 Thông tư 35/2018/TT-BTNMT)

Loài ngoại lai xâm hại đáp ứng một trong các tiêu chí như đang lấn chiếm nơi sinh sống, cạnh tranh thức ăn hoặc gây hại đối với các sinh vật bản địa, phát tán mạnh hoặc gây mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển ở Việt Nam. Đánh giá là có nguy cơ xâm hại cao đối với đa dạng sinh học và được ghi nhận là xâm hại ở khu vực có khí hậu tương đồng với Việt Nam qua khảo nghiệm, thử nghiệm có biểu hiện xâm hại. Loài ngoại lại có nguy cơ xâm hại đáp ứng một trong các tiêu chí như có khả năng phát triển và lan rộng nhanh, có biểu hiện cạnh tranh thức ăn, môi trường sống và có khả năng gây hại đến các loài sinh vật bản địa của Việt Nam. Được ghi nhận là xâm hại tại khu vực có khí hậu tương đồng với Việt Nam. Được đánh giá là có nguy cơ xâm hại cao đối với đa dạng sinh học của Việt Nam.

Danh mục loài ngoại lai xâm hại gồm 19 loài, loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại gồm 61 loài.

Công khai thông tin về loài ngoại lai xâm hại (Điều 54):

Trách nhiệm công khai thông tin về loài ngoại lai xâm hại được giao cho các Bộ, ngành, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện chức năng quản lý và kiểm soát loài ngoại lai xâm hại, Đồng thời các cơ quan thông tin đại chúng cũng có trách nhiệm đưa tin, tuyên truyền về loài ngoại lai câm hại và các biên pháp hiệu quả nhất để cô lập, diệt trừ chúng nhằm tuyên truyền, phổ biến kiến thức về kiểm soát loài ngoại lai xâm hại tới cộng đồng, để mọi người biết và chủ động tham gia vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học

4. Các quy định về nội dung, biện pháp kiểm soát loài ngoại lai xâm hại

Kiểm soát việc nhập khẩu loài ngoại lai xâm hại, sự xâm nhập từ bên ngoài của loài ngoại lai xâm hại (Điều 51).

Nội dung này quy định về trách nhiệm của cơ quan hải quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc kiểm soát nhập khẩu loài ngoại lai thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại, đánh giá khả năng xâm nhập từ bên ngoài của loài ngoại lai để có biện pháp phòng ngừa và kiểm soát loài ngoại lai xâm hại. Hoạt động này nhằm nâng cao quá trình kiểm soát loài ngoại lai xâm hại ngay từ khi chúng chưa xuất hiện ở Việt Nam, hạn chế tối đa những tác động gây hại của chúng tới môi trường hệ sinh thái và cuộc sống của con người.

Pháp luật Việt Nam hiện hành nghiêm cấm việc nhập khẩu các loài ngoại lai xâm hại. Khoản 7 Điều 7 Luật Đa dạng sinh học 2008 quy định về những hành vi bị nghiêm cấm về đa dạng sinh học, trong đó có quy định: "Nghiêm cấm việc nhập khẩu, phát triển loài ngoại lai xâm hại". Pháp luật hiện hành quy định cụ thể về kiểm soát nhập khẩu loài  ngoại lai xâm hại, sự câm nhập từ bên ngoài của loài ngoài lai tại Điều 51 Luật Đa dạng sinh học năm 2008. Theo đó, trách nhiệm kiểm soát việc nhập khẩu loài ngoại lai câm hại được giao cho cơ quan hải quan chủ trì, phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tại cửa khẩu kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong việc nhập khẩu loài ngoại lai thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại. Đây là cơ quan chủ quản trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nên có đầy đủ điều kiện v à thẩm quyền trong công tác kiểm soát việc nhập khẩu các loài ngoại lai nói trên. Đồng thời trách nhiệm kiểm soát sự xâm nhập từ bên ngoài của loài ngoại lai xâm hại được giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền tổ chức kiểm tra, đánh giá khả năng xâm nhập của loài ngoại lai từ bên ngoài để có biện pháp phòng ngừa, kiểm soát loài ngoại lai xâm hại. Bên cạnh con đường nhập khẩu thì sinh vật ngoại lai có thể vào Việt Nam bằng nhiều con đường khác nhau do đó cần tăng cường công tác kiểm soát sự xâm nhập của loaid ngoại lai nói chung. Quy định này nhằm kiểm soát toàn diện các con đường du nhập của loài ngoại lai vào môi trường bản địa, dự liệu được những tác động của chúng để chủ động đưa ra các biện pháp ứng phó kịp thời. 

Kiểm soát việc nuôi trong loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại (Điều 52).

Theo đó pháp luật đã quy định cụ thể các điều kiện để được phép nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại nói chung và việc nuôi trông loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại trong khu bảo tồn nói riêng phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện nhằm đảm bảo việc nuôi trồng loài ngoại lai có nhuy cơ xâm hại phải được tiến hành một cách khoa học, chặt chẽ, có căn cứ rõ ràng mới được cấp phép cho nuôi trồng một cách rộng rãi trên thực tế. Đồng thời pháp luật cũng quy định trách nhiệm của các Bộ ngành trong quá trình khảo nghiệm và cấp phép nuôi trồng loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại.

Kiểm soát sự lây lan phát triển của loài ngoại lai xâm hại (Điều 53):

Đối với vấn đề này pháp luật quy định cụ thể về nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng nói chung, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quá trình cô lập và diệt trừ loài ngoại lai xâm hại; trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khi phát hiện loài ngoại lai xâm hại để công tác kiểm soát sự lây lan, phát triển của loài ngoại lai xâm hại được triển khai nhanh chóng, hiệu quả.

5. Các quy định xử lý vi phạm pháp luật về kiểm soát loài ngoại lai xâm hại

5.1. Về trách nhiệm hành chính

Được quy định tại Nghị định 155/2016/NĐ-CP và mới đây nhất Chỉnh phủ mới ban hành Nghị định 55/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung có hiệu lực thi hành từ ngày 10/7/2021. Theo đó cá nhân ,tổ chức có hành vi vi phạm hành chính về kiểm soát loài ngoại lai xâm hại thì bị áp dụng một trong các hình thức phạt chính như: cảnh cáo, phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là 1 tỷ đồng đối với cá nhân và 2 tỷ đồng đối với tổ chức.

Điều 43 Nghị định 155/2016/NĐ-CP đã quy định rõ về việc xử lý hành vi vi phạm các quy định về kiểm soát loài ngoại lai xâm hại với từng hành vi cụ thể đi kèm với các mức xử phạt khác nhau tùy thuộc vào tinihf chất và mức độ của hành vi vi phạm. Theo đó, mức xử phạt thấp nhất là 5 triệu đồng và cao nhất lên đến 1 tỷ đồng. Ngoài ra, chủ thể có hành vi vi phạm còn phải gánh chịu các hình thức xử phạt bổ sung quy định tại khoản 8 gồm: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với trường hợp vi phạm quy định tại Điều này. Đồng thời sẽ phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu hủy toàn bộ loài ngoại lai câm hại xuất hiện; buộc khôi phục lại trạng thái ban đầu đối với trường hợp vi phạm quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, và 5 Điều này; Buộc tái xuất toàn bộ loài ngoại lai xâm hại nhập khẩu trái phép ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với trường hợp vi phạm quy định tại khoản 6, khoản 7 Điều này. Trường hợp không thể tái xuất được thì buộc tiêu hủy toàn bộ loài ngoại lai xâm hại nhập khẩu trái phép.

5.2. Về trách nhiệm dân sự

Bên cạnh trách nhiệm hành chính chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật trong kiểm soát loài ngoại lai xâm hại còn có thể phải gáng chịu trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định rõ bồi thường thiệt hại về môi trường trong đó xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường (trong trường hợp này thì ô nhiễm, suy thoái môi trường là do sinh vật ngoại lai xâm hại gây ra) bao gồm:

- Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường.

- Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường gây ra.

Trách nhiêm dân sự nói cung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra nói riêng do sinh vật ngoại lai xâm hại gây ra được giải quyết theo quy định chung của Bộ luật dân sự năm 2015 và pháp luật môi trường nhằm đảm bảo quyền lợi của người bị thiệt hại, khôi phục môi trường tự nhiên, đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các chủ thể vi phạm pháp luật về kiểm soát loài ngoại lai xâm hại mà g ây thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân về tính mạng, sức khỏe, tài sản thì cũng phải bồi thường những thiệt hại đó.

5.3. Về trách nhiệm hình sự

Bên cạnh trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự, chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật về kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm hại còn có thể phải gánh chịu trách nhiệm hình sự nếu vi phạm một trong các tội phạm về môi trường quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Trong đó các hành vi phạm tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại được quy định tại Điều 246 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 với mức phạt cao nhất lên đến 07 năm tù. Trong đó pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều 246 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì bị phạt như sau:

- Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì bị phạt tiền từ 1 tỷ đồng đến 3 tỷ đồng.

- Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì bị phạt tiền từ 3 tỷ đồng đến 5 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

Bên cạnh đó, pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 1 tỷ đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.