1. Phí cầu bến là gì?

Phí cầu bến (Wharfage hay còn gọi là wharfage charges) là phí do chính quyền cảng thu của phía có lợi về hàng hóa (Cargo interests) khi sử dụng cầu cảng để neo đậu tàu hoặc bốc dỡ hàng hóa lên hoặc xuống tàu. Tuy nhiên, nó không bao gồm các dịch vụ như kiểm tra, phân loại, cân, bốc dỡ, bốc xếp,... Phí cầu bến còn được gọi là Cargo Dues hoặc CD ở một vài quốc gia. Nói một cách đơn giản, đó là phí sử dụng cầu bến.

Có ba yếu tố quan trọng cần cân nhắc trong chính sách định giá cầu cảng:

- Dòng chi phí.

- Dòng lợi ích.

- Dòng doanh thu.

Doanh thu của cầu bến đến từ người dùng. Chính quyền cảng không thể tính phí cao hơn giá thị trường chấp nhận. Nếu họ cố chấp tính phí cho chủ hàng những khoản tiền vô lý so với những lợi ích mà họ mang lại, thì dòng hàng hóa đi qua cảng sẽ giảm dần hoặc thương nhân sẽ chuyển sang sử dụng các phương tiện vận tải khác. 

 

2. Ai là người trả phí cầu bến?

Phí cầu bến là một trong những phí thuộc THC (Terminal Handling Charge), có thể hiểu là phụ phí xếp dỡ hàng hóa tại cảng. 

Phí cầu bến do người mua và người bán trả, tùy thuộc vào các điều khoản thanh toán. Các điều khoản thanh toán này được gọi là Incoterms, viết tắt của Điều khoản thương mại quốc tế. Nó là thuật ngữ quốc tế do ICC (Phòng Thương mại quốc tế) ban hành.

  EXW FCA FAS FOB CFR CIF CPT CIP DAT DAP ĐP
Cảng xuất

Người mua

Người mua

Người bán

Người bán

Người bán

Người bán

Người bán

Người bán

Người bán Người bán Người bán
Cảng nhập Người mua Người mua Người  mua Người mua Người mua Người mua Người bán Người bán Người bán Người bán Người bán

Sau khi hàng hóa đến bến, thông thường chúng có thể được giữ tại cảng từ 5 đến 6 ngày mà không phải trả thêm bất kỳ chi phí nào. Khi quá thời gian bốc dỡ hàng, một khoản phí bổ sung có thể được áp dụng khi hàng hóa được bốc dỡ.

 

3. Cách tính phí cầu bến

Phí cầu bến được tính khi hàng cập bến cảng. Các khoản phí phát sinh liên quan được tính theo trọng lượng (tấn) hoặc thể tích (mét khối) của hàng hóa, các khoản phí sẽ được ấn định.

Phí cầu bến còn thường phụ thuộc vào loại hàng hóa trên tài. Mặc dù hầu hết các cơ quan quản lý cảng tính phí dựa trên số tấn hoặc khối lượng, nhưng họ cũng có thể đặt phí dựa trên mỗi đơn vị container. Nó dao động đối với tùy từng loại hàng hóa, tuy nhiên, thường có một khoản phí cảng tiêu chuẩn mà các cơ quan quản lý thường không thể vượt quá để tránh mất khách do phí và thuế cảng cao. 

Phí cầu bến do cơ quan chức năng ấn định. Chúng không thể thương lượng được, tuy nhiên cần phải kiểm tra xem các khoản phí có được lập hóa đơn chính xác hay không. Điều này có thể thực hiện được bằng cách truy cập trang web của cơ quan quản lý cảng để xem mức giá đã công bố. Nếu thông tin không có sẵn trên trang web, thương nhân có thể yêu cầu hóa đơn gốc từ người bán. 

 

4. Sự khác biệt giữa Wharfage (phí cầu bến) và demurrage (phí lưu bãi)

Phí cầu bến là phí luôn được tính đối với hàng hóa. Còn phí lưu bãi được tính khi một tàu/container bị bỏ lại tại cảng vượt quá khoảng thời gian so với quy định. Phí lưu bãi đảm bảo rằng tàu không ở trong bến trong một thời gian dài. Nó giống như một hình phạt vì vượt quá thời gian thỏa thuận để xếp hàng và dỡ hàng trên cảng.

Phí cầu bến được tính dựa trên trọng lượng hoặc khối lượng của hàng hóa, không như phí lưu bãi, được tính trên mỗi container và thời gian khác nhau giữa các bến cảng.

Phí xuất bến khác nhau tùy thuộc vào bến tàu, trong khi phí cầu bến có phần giống nhau trên toàn thế giới. 

Phí lưu bãi là chi phí mà người mua phải trả cho việc nhận hàng từ cảng vì lý do trì hoãn. Tuy nhiên, người bán đôi khi có thể phải chịu phí này do hàng hóa của họ vẫn ở trong cảng mà không được bốc xếp lên tàu đúng hạn. Phí lưu bãi về cơ bản là một hình thức phạt đối với tàu neo đậu quá thời gian quy định.

 

5. Sự khác biệt giữa Wharfage và Port charges (phí cảng)

Phí cảng bao gồm phí neo đậu và vệ sinh, phí neo đậu,... Tuy nhiên, phí cầu bến chỉ là thuế đánh vào hàng hóa được vận chuyển và chủ yếu là liên quan đến việc bốc dỡ hàng hóa. Phí cảng là một khoản phí cố định đối với tàu tại cảng. Phí lưu bãi, phí đến sớm và phí xử lý thiết bị đều được bao gồm trong các phí cảng này. 

 

6. Sự khác biệt giữa Wharfage và Arrastre

Wharfage (phí cầu cảng) là phí mà cảng tính cho đặc quyền vận chuyển hàng hóa qua cảng cụ thể đó.

Phí Arrestre được tính để xử lý, tiếp nhận và lưu giữ hàng hóa tại cảng cụ thể đó.

Wharfage liên quan đến chi phí cho không gian và Arrestre liên quan đến chi phí lao động và quản lý. 

 

7. Sự khác biệt giữa phí Wharfage và phí Dockage

Để hiểu sự khác biệt giữa phí Wharfage và phí Dockage, trước hết ta phải hiểu sự khác biệt giữa cầu bến và bến tàu. Một bến tàu là một vùng nước nơi con tàu được cập cảng. Cầu bến hay cầu cảng là công trình nhân tạo trên hoặc gần bến tàu, nơi có thể diễn ra các hoạt động trên bộ. Trong khi Wharfage là phí sử dụng cầu cảng thì Dockage là phí sử dụng bến tàu. Trong hầu hết các trường hợp, phí cầu bến bao gồm cả phí bến tàu.

 

8. Các cảng có nguồn thu lớn nhất từ phí cầu bến

- Cảng Thượng Hải: Năm 2010, cảng Thượng Hải vượt qua cảng Singapore trở thành  cảng lớn nhất và sầm uất nhất thế giới. Cảng này xử lý khoảng 25,7% hàng hóa của Trung Quốc. Cảng Thượng Hải có giá trị hàng hóa hàng ngày hơn 1,6 tỷ USD.

- Cảng Singapore: Đây là cảng biển lớn thứ hai với giá trị hàng hóa thông qua hơn 594 triệu tấn/ngày. Cảng có hàng ngàn tài thả neo ở cảng, kết nối với hơn 600 cảng khác trong 123 quốc gia và trải rộng trên sáu lục địa. 

Cảng Singapore không chỉ là một nguồn lợi kinh tế đơn thuần mà đặc biệt cần thiết bởi quốc đảo này thiếu đất đai và tài nguyên thiên nhiên. Cảng là nơi quan trọng đối với việc nhập khẩu tài nguyên thiên nhiên, và sau đó tái xuất khi hàng đã được tinh chế. 

 

9. Khung giá sử dụng dịch vụ cầu, bến trong vận tải nội địa tại Việt Nam

Theo Thông tư 54/2018/TT-BGTVT về biểu khung giá dịch vụ hoa tiêu, dịch vụ cầu bến, phao neo, dịch vụ bốc dỡ container và dịch vụ lai dắt tại cảng biển Việt Nam, khung giá được quy định như sau:

- Đối với tàu neo buộc tại cầu, bến thì có giá tối thiểu là 13.50 Đồng/GT/giờ và giá tối đa là 15,00 Đồng/GT/giờ.

- Đối với tàu thuyền neo buộc tại phao neo thì có giá tối thiểu là 9,00 Đồng/GT/giờ và giá tối đa là 10,00 Đồng/GT/giờ.

- Đối với tàu thuyền nhận được lệnh rời cảng mà vẫn chiếm cầu, bến thì có giá tối thiểu là 13,50 Đồng/GT/giờ và giá tối đa là 15,00 Đồng/GT/giờ.

- Đối với tàu thuyền cập mạn với tàu thuyền khác ở cầu, phao neo thì có giá tối thiểu là 6,75 Đồng/GT/giờ và giá tối đa là 7,50 Đồng/GT/giờ.

Trong đó, GT là tổng dung tích và các mức giá của khung giá trên quy định chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. 

Trên đây là toàn bộ bài viết của Luật Minh Khuê về Phí cầu bến (Wharfage). Nếu có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến bài viết hoặc vấn đề pháp luật, vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 24/7 qua số hotline1900.6162. Hy vọng bài viết sẽ giúp ích cho quý độc giả. Xin chân thành cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi.