1. Tội phạm và Phòng ngừa tội phạm
Khái niệm tội phạm được định nghĩa cụ thể tại K1 Điều 8, BLHS 2015: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”.
Phòng ngừa tội phạm là tổng thể các biện pháp can thiệp chung và riêng áp dụng cho người phạm tội tiềm năng và nạn nhân tiềm năng, có xác định mục tiêu rõ ràng, được tiến hành bởi các thiết chế nhà nước và cộng đồng, trong đó nhấn mạnh vào cách tiếp cận vấn đề có định hướng nhằm kiểm soát hành vi không phù hợp với xã hội, những hành vi phạm tội, cũng như giải quyết những khía cạnh liên quan đến tội phạm như nỗi sợ hãi, sự rối loạn về tâm lý, mất an ninh, trật tự.
Một số quan điểm/ lý thuyết của các tác giả lớn Tội phạm học về vấn đề phòng ngừa tội phạm:
- Cesrare Baccaria (1738-1794), ông cho rằng: Cách tốt nhất để phòng ngừa tội phạm là luật phải được quy định đơn giản và rõ ràng, khen thưởng với người có đạo đức tốt và cải thiện nền giáo dục;...
- eremy Bentham (1748-1832), ông có quan điểm khá thực dụng đối với việc phòng ngừa tội phạm. Ông cho rằng, mọi công dân nên xăm năm họp tên của mình vào cổ tay với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho sự nhận dạng của cảnh sát. Ông cũng đưa ra ý tưởng thành lập lực lượng cảnh sát được chuyên môn hóa cho việc phòng ngừa và kiểm soát tội phạm.
- Enrico Ferri (1856-1929), ông coi trọng các biện pháp phòng ngừa tội phạm để không cho tội phạm xảy ra hơn là trừng trị người phạm tội sau khi tội phạm đã xảy ra. Đó là cải thiện điều kiện sống của người dân, ăn tăng cường quản lý nhà nước đối với vũ khí, tăng cường ánh sáng đường phố, cung cấp nhà ở cho người dân với giá thấp,… Ông cho rằng việc thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa được đưa ra trên cơ sở khoa học cuối cùng sẽ làm giảm được tỷ lệ tội phạm, từ đó cho phép mọi người sống với nhau trong xã hội mà không lệ thuộc nhiều vào hệ thống tư pháp hình sự.
Các quan điểm trên của các tác giả ít nhiều có sự ảnh hưởng to lớn đến việc chủ động phòng ngừa tội phạm thời nay, đặc biệt là đến việc phòng ngừa tình huống phạm tội – đó là những cơ sở cần thiết, sâu sắc cho việc hạn chế tội phạm.
2. Phòng ngừa tình huống phạm tội
Khái niệm: Phòng ngừa tình huống phạm tội là biện pháp làm giảm cơ hội phạm tội liên quan đến việc quản lý, thiết kế, hoặc vận hành các môi trường vật chất và tác động đến dân cư trong đó để giải quyết các loại tội phạm cụ thể tại những địa điểm nhất định trên những địa bàn xác định, nhằm làm cho việc thực hiện tội phạm khó khăn hơn, nguy hiểm hơn, đạt ít kết quả hơn, cũng như khó được tha thứ và chấp nhận hơn bởi cộng đồng xã hội và pháp luật.
2.1. Đặc điểm của phòng ngừa tình huống phạm tội
- Thứ nhất, biện pháp tình huống được thiết lập và áp dụng cần thiết phải phù hợp với đặc trưng riêng biệt của mỗi loại tội phạm nhất định (thời điểm diễn ra, nạn nhân, các biện pháp an ninh hiện thời,...).
- Thứ hai, phòng ngừa tình huống phạm tội có liên quan đến sự thay đổi môi trường vật chất và con người trong đó để giảm thiểu cơ hội cho một tội phạm xảy ra mà không đòi hỏi các giải pháp dài hạn nhằm cải thiện các nguyên nhân gốc rễ của hành vi phạm tội.
- Thứ ba, định nghĩa trên đại diện cho mục tiêu cuối cùng của phòng ngừa tình huống phạm tội là nhằm ngăn chặn, cản trở một người thực hiện tội phạm bằng cách làm các hành động tội phạm khó khăn hơn hoặc tác động đến quá trình suy nghĩ của người phạm tội tiềm năng để ngăn cản việc thực hiện tội phạm tại một thời điểm và một địa điểm cụ thể.
Mục tiêu của phòng ngừa tình huống phạm tội: làm cho việc thực hiện hành vi phạm tội kém hấp dẫn và thu hẹp xu hướng của người phạm tội tiềm năng => tập trung giải quyết môi trường trực tiếp của tội phạm.
2.2.Hình thức phòng ngừa nhằm làm giảm cơ hội
- Thứ nhất, cơ hội thực hiện tội phạm có thể giảm thông qua việc quản lý, thiết kế hoặc thao tác của môi trường vật chất trực tiêp để tăng cường an toàn và an ninh của nó.
- Thứ hai, cơ hội thực hiện tội phạm có thể làm giảm xuống thông qua môi trường con người trực tiếp => cốt lõi của biện pháp này là sự kiểm soát bởi những người sử dụng hợp pháp một môi trường, được tóm lược bởi những chương trình giám sát địa bàn và các đội tuần tra công dân (tuần tra tự nguyện).
Phòng ngừa tình huống phạm tội dựa trên cơ sở của 3 học thuyết: Thuyết chu kỳ hoạt động; Thuyết cơ hội hợp lý và Thuyết tìm kiếm người phạm tội. Cụ thể:
- Thuyết chu kỳ hoạt động giúp giải thích hoàn cảnh cần thiết cho hành vi phạm tội xảy ra. Thuyết hoạt động thường xuyên cho rằng hầu hết hành vi phạm tội được thực hiện bởi người phạm tội có động cơ chống lại một mục tiêu hoặc nạn nhân tiềm năng tại một thời gian địa điểm cụ thể.
- Thuyết cơ hội hợp lý lý giải về quyết định của người phạm tội và lập luận rằng người phạm tội có những lựa chọn và quyết định trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện một hành động phạm tội, và do đó có thể bị ngăn cản.
- Thuyết tìm kiếm người phạm tội cho thấy những hành vi có nguyên nhân từ cơ hội của người phạm tội được kích thích bởi những tín hiệu được phát ra bởi môi trường vật chất - một học thuyết được thúc đẩy bởi các nhà phạm tội học môi trường.
Đặc trưng nhất của biện pháp phòng ngừa tình huống phạm tội tập trung ở một cơ hội do một tội phạm xảy ra tại một thời điểm và địa điểm cụ thể. Do đó, việc giảm cơ hội thực hiện tội phạm cốt lõi cho giải pháp phòng ngừa tình huống phạm tội.
Việc giảm cơ hội phạm tội được thể hiện trên các bình diện như sau:
- Tăng mức độ khó cho việc thực hiện tội phạm;
- Tăng khả năng phát hiện nguy hiểm (tăng nguy cơ tội phạm bị phát hiện và xử lý);
- Giảm hoặc loại bỏ kết quả đạt được của tội phạm;
- Loại bỏ những lời bào chữa.
3. Ý nghĩa, vai trò của phòng ngừa tình huống phạm tội
Mang tính chủ động cao của các đối tượng nạn nhân tiềm năng, hạn chế được tối đa các tình huống phạm tội xảy ra, đảm bảo an toàn hơn về tính mạng, thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, cũng như tài sản,...
Tính tập thể cao hơn: liên kết theo khu vực, ngõ, hẻm, tổ chức, nhóm,... mang tính dây truyền tín hiệu và nhận biết làm cho các tình huống phạm tội kém hấp dẫn hơn và tăng nguy cơ bị phát hiện đối với các đối tượng có ý định thực hiện phạm tội.
4. Quy định pháp luật về phòng ngừa tình huống phạm tội
Trong BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) không có quy định cụ thể về phòng ngừa tình huống phạm tội mà chỉ có các quy định chung mang tính phòng ngừa. Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục học ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Hình phạt bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung:
- Hình phạt chính bao gồm 07 loại:
- Cảnh cáo
- Phạt tiền;
- Cải tạo không giam giữ;
- Trục xuất;
- Tù có thời hạn;
- Tù chung thân;
- Tử hình.
- Hình phạt bổ sung bao gồm 07 loại:
- Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;
- Cấm cư trú;
- Quản chế;
- Tước một số quyền công dân;
- Tịch thu tài sản;
- Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính;
- Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.
Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.
Việc phòng ngừa tình huống tội phạm còn được được quy định chung tại các luật liên quan như:
- Luật phòng chống rửa tiền 2012: Điều 1, 2 quy định về “Phạm vi điều chỉnh” và “Đối tượng áp dụng”; Điều 6 “Chính sách của Nhà nước về phòng, chống rửa tiền”; Điều 7 “Các hành vi bị cấm”;...
- Luật phòng chống mua bán người 2011: Điều 1 “Phạm vi điều chỉnh”; Điều 2 “Các hành vi bị nghiêm cấm”; Điều 5 “Chính sách của Nhà nước về phòng, chống mua bán người”; Điều 6 “Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân”;...
- Luật phòng chống khủng bố 2013: Điều 1,2 về “Phạm vi điều chỉnh” và “Đối tượng áp dụng”; Điều 5 “Chính sách phòng, chống khủng bố”; Điều 6 “Các hành vi bị nghiêm cấm” và Trách nhiệm của các ơ quan khác;...
- Luật phòng chống tham nhũng 2018: Tại Điều 2 quy định về các “Các hành hành vi tham nhũng”, Điều 4 về “Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước trong phòng, chống tham nhũng; Điều 5 về “Quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tham nhũng”;...
- Luật phòng chống ma túy 2021: Điều 1 “Phạm vi điều chỉnh”; Điều 3 “Chính sách của Nhà nước về phòng, chống ma túy”; Điều 5 “Các hành vi bị nghiêm cấm”;...
Các Luật trên không có quy định cụ thể, chi tiết về phòng ngừa tình huống phạm tội nhưng bản chất các Luật trên chính là phòng ngừa, ngăn chặn phạm tội xảy ra; Luật đã chỉ ra phạm vi, đối tượng áp dụng, các hành vi bị cấm, chính sách Nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền xử lý,... khi nhìn vào đó các tội phạm sẽ biết trước được hậu quả của mình như thế nào nếu vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, là gánh nặng tâm lý đối với tội phạm.
Chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm giai đoạn 1998-2015 và giai đoạn 2016-2025 và định hướng đến năm 2030: Các chương trình trên sẽ được tiến hành một cách tổng thể và kết hợp chặt chẽ giữa nhiều cơ quan, tổ chức, các nhân tạo nên hiệu quả phòng ngừa cao.
Theo pháp luật, một trong các chủ thể quan trọng trong phòng ngừa tình huống tội phạm không thể không nhắc tới đó là: Lực lượng công an. Đây là lực lượng rõ ràng đóng một vai trò rất lớn trong việc ngăn chặn tội phạm và tăng tối đa an ninh khu dân cư. Kiểm soát cộng đồng và kiểm soát vấn đề được nhìn nhận là những triết lý phòng ngừa tội phạm quan trọng nhất của công an hiện nay.
Chức năng, nhiệm vụ của lực lượng công an được quy định tại Luật Công an Nhân dân 2018, cụ thể: Điều 15 “Chức năng của Công an nhân dân”; Điều 16 “Nhiệm vụ và quyền hạn của Công an nhân dân”.