1. Quan niệm về quyền lực

Thuật ngữ quyền lực được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực quản lý. Bertrand Russell (1872-1970) nhà triết học, lôgic học và toán học người Anh cho rằng: “Quyền lực là sự tạo ra những hiệu quả mong muốn”. Robert A.Dahl (1915-2014), nhà chính trị học người Mỹ đưa ra quan niệm: “A có quyền lực đối với B là theo nghĩa A có thể buộc B phải làm điều gì đó, còn B thì không thể bắt buộc A”. Dưới giác độ xã hội học, Max Weber (nhà xã hội học người Đức) đưa ra khái niệm: “Quyền lực trong xã hội là khả năng mà một kẻ hành động trong một mối quan hệ nhất định có thể đạt được mục đích như ý muốn của mình bất chấp sự phản kháng có thể có từ người khác cũng như những nền tảng của khả năng đó”.

Nhìn chung các quan điểm nêu trên đều thống nhất cho rằng quyền lực là khả năng gây ảnh hưởng đến người khác, điều khiển, bắt buộc người khác phải tuân theo yêu cầu dù có muốn hay không. Như vậy, người có quyền lực có khả năng gây ảnh hưởng, sai khiến, điều khiển, bắt buộc người khác phải thực hiện.

Nội hàm của quyền lực luôn có hai yếu tố cân đối, đó là quyền được điều khiển, sai khiến người khác (lợi ích) và sự chịu trách nhiệm về hậu quả của sự điều khiển (trách nhiệm). Sự cân đối giữa quyền lợi và trách nhiệm cũng là nguyên tắc trong hoạt động quản lý. Người có quyền lực có khả năng yêu cầu, bắt buộc người khác phải thực hiện theo những mệnh lệnh của mình thì đương nhiên họ cũng phải chịu trách nhiệm với hành vi của nhân viên cấp dưới do mình điều khiển. Nhà quản lý khác với nhân viên ở chỗ nhân viên chỉ chịu trách nhiệm về hành vi của mình, còn nhà quản lý không chỉ chịu trách nhiệm về hành vi của mình mà còn phải chịu trách nhiệm về hành vi của nhân viên cấp dưới do mình quản lý.

Trách nhiệm ít, quyền lợi nhiều sẽ dẫn đến tình trạng độc đoán, chuyên quyền, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân. Cá nhân trong tổ chức sẽ không dám nêu ý kiến, quan điểm của mình vì nhà quản lý có quá nhiều quyền lực và lợi ích. Điều này cũng dẫn đến tình trạng tranh giành quyền lực trong tổ chức, các cá nhân sẽ tìm mọi cách - kể cả dùng thủ đoạn để có được quyền lực. Quyền lực càng lớn thì trách nhiệm càng cao. Do đó, bất kỳ một sự thiên lệch nào giữa lợi ích và trách nhiệm đều gây ra những khó khăn cho nhà quản lý và là nguy cơ gây bất ổn cho tổ chức. Vì vậy, việc xác lập quyền hạn và trách nhiệm đối với mỗi vị trí luôn là một vấn đề khó trong công tác thiết kế, xây dựng bộ máy tổ chức, đòi hỏi nhà quản lý phải thấm nhuần và xác định rõ quyền và trách nhiệm trong quá trình thực hiện các hoạt động của mình.

2. Quyền lực nhà nước là gì?

Quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị được thực hiện bằng bộ máy nhà nước là cơ quan, là công cụ của quyền lực chính trị. Nhà nước thể hiện một cách tập trung quyền lực chính trị.

Tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nguyên tắc này cũng là quan điểm trong chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước ở thời kỳ đẩy mạnh đổi mới kinh tế chính trị.

3. Sự cần thiết phải kiểm soát quyền lực nhà nước

Quyền lực nhà nước, một mặt, là yếu tố cần thiết để duy trì trật tự xã hội; mặt khác, luôn có xu hướng bị lạm dụng bởi những người nắm giữ. Do vậy, quyền lực nhà nước cần phải được kiểm soát. Có thể luận giải sự kiểm soát này vì các lý do dưới đây:

Quyền lực nhà nước là quyền lực được người dân ủy nhiệm. Đó không phải là thứ quyền lực tự thân, hay xuất phát từ đấng siêu nhiên, mà là quyền lực có nguồn gốc từ người dân. Do đó, xét từ khía cạnh đạo đức, các công chức trong bộ máy nhà nước phải có nghĩa vụ phục vụ nhân dân, là “đày tớ”, “công bộc” của nhân dân. 

Quyền lực nhà nước bao giờ cũng được giao cho một nhóm người nắm giữ, nên rất dễ bị các cá nhân thao túng, lạm dụng. Trong mỗi con người, thường tồn tại hai thái cực: tính vị tha (vì người, vì xã hội) và tính vị kỷ (vì bản thân mình). Do đó, bên cạnh việc bị chi phối bởi các lý tưởng, niềm tin cao đẹp, hành vi của con người còn bị chi phối bởi các toan tính cá nhân. Khi con người được đặt trong một môi trường quá dễ dàng, thuận tiện, thì lòng tham có thể sẽ nổi lên, lấn át lý trí. Trong hoàn cảnh đó, khả năng lạm dụng, sử dụng quyền lực công để “mưu lợi riêng” rất dễ xảy ra.

Quyền lực nhà nước là ý chí chung của xã hội nhưng lại được giao cho một số ít người với những khả năng hữu hạn khi thực thi. Đã là con người, ai cũng có thể mắc sai lầm, bởi thế, những người nắm giữ quyền lực nhà nước cũng có thể mắc sai lầm trong quá trình thực thi nó. Tuy nhiên, do tính chất của quyền lực nhà nước, nên nếu để xảy ra sai lầm này, cộng đồng, xã hội sẽ là đối tượng phải gánh chịu những hậu quả. Do vậy, để giảm thiểu những sai lầm đáng tiếc đó, quyền lực nhà nước cần được đặt dưới sự kiểm soát.

Nhà nước là chủ thể giữ độc quyền cưỡng chế hợp pháp. Quyền lực nhà nước thường được sử dụng để cưỡng chế và loại bỏ những vật cản, những hành vi gây trở ngại cho việc thực hiện lợi ích chung của cộng đồng, xã hội. Khi đó, nếu quyền lực này được sử dụng một cách hợp lý sẽ đem lại cho xã hội sự trật tự và phát triển; ngược lại, nếu nó bị lạm dụng, sẽ gây hậu quả cho xã hội. Thực tế cho thấy, không phải bao giờ sự cưỡng chế và can thiệp của nhà nước cũng đúng đắn và mang lại hiệu quả. Với lý do như vậy, quyền lực nhà nước cần được điều chỉnh kịp thời, được kiểm soát thường xuyên và chặt chẽ.

4. Kiểm soát quyền lực Nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Phương pháp kiểm soát QLNN trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện ở những phương thức hay cách thức, hình thức để kiểm soát quyền lực của các tổ chức, cá nhân có quyền lực trong bộ máy Nhà nước. Mỗi tổ chức, cá nhân, với vị trí, chức năng hay chức vụ lãnh đạo, quản lý nhất định trong bộ máy Nhà nước, đều ít nhiều có quyền hành. Quyền lực này là do Đảng hoặc Chính phủ, đoàn thể “ủy cho họ quyền lãnh đạo” mà có. Xét cho cùng, quyền lực đó cũng đều do nhân dân “ủy thác” ra với những thời hạn nhất định.

Phương pháp kiểm soát QLNN trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, sử dụng “phép luật của nhân dân” trong việc thực hiện kiểm soát QLNN

Sử dụng pháp luật trong việc thực hiện kiểm soát QLNN có vai trò cực kỳ quan trọng. Ngay từ khi đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã xác định rõ vai trò của pháp luật và nhấn mạnh điều đó bằng một câu thơ rất cô đọng trong “Bản Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi tới trưởng đoàn các nước tham dự Hội nghị Véc-xây năm 1919: “Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”.

Vào lúc bấy giờ, Người đã nhận thức rõ rằng, Nhà nước tư sản cũng là Nhà nước pháp quyền nhưng pháp luật trong Nhà nước đó chủ yếu vẫn do những người đại diện của giai cấp tư sản xây dựng nên, chủ yếu bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản mà chưa nhằm bảo vệ lợi ích của đông đảo nhân dân lao động. Chính vì vậy, sau này khi đã lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, thực hiện xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân, Người cho rằng, phải xây dựng pháp luật làm sao bảo đảm thực sự là của nhân dân, bảo vệ lợi ích của nhân dân, và do vậy phải do nhân dân xây dựng nên. Người chỉ rõ: “Phép luật là phép luật của nhân dân, dùng để ngăn cản những hành động có hại cho nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số nhân dân”.

Theo Hồ Chí Minh, để pháp luật thực sự là của nhân dân thì nhân dân cần được trực tiếp tham gia xây dựng, hay được “phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia”. Điều đó có nghĩa, nhân dân phải được tham gia đóng góp ý kiến, quyết định đối với các văn bản pháp luật, quyết định đối với những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Để thực hiện kiểm soát QLNN bằng pháp luật, Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu huy động tài năng, sáng kiến của nhân dân vào xây dựng pháp luật mà còn nhấn mạnh đến việc thực thi pháp luật. Theo Hồ Chí Minh, có pháp luật rồi nhưng pháp luật đó phải được thực hiện một cách nghiêm minh; bất cứ hành vi vi phạm pháp luật nào cũng phải bị trừng trị nghiêm khắc. Ngày 5/2/1946, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 27, trong đó quy định phá hoại tài sản công bị coi là trọng tội, sẽ bị truy tố và phạt tù hoặc xử tử. Ngày 27/1/1946, Người ký Sắc lệnh số 223 ấn định hình phạt đối với tội đưa và nhận hối lộ, biển thủ công quỹ, tài sản công, trong đó, tội tham ô, trộm cắp của công cũng bị khép vào mức án tử hình.

Thứ hai, kiểm soát QLNN từ bên trong Nhà nước

Kế thừa tư tưởng tiến bộ của các nhà lập hiến trên thế giới, cũng như vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin về tổ chức QLNN, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rất rõ phương pháp kiểm soát QLNN từ bên trong Nhà nước. Ở bản Hiến pháp năm 1946, Người đã đưa ra ý tưởng ban đầu về sự phân công và có sự kiểm soát giữa các cơ quan cao nhất của QLNN. Trong bản Hiến pháp này, Hồ Chí Minh đã áp dụng những nguyên lý cơ bản của thuyết phân quyền ở khía cạnh kỹ thuật trong việc tổ chức thực hiện QLNN. Trong cơ cấu quyền lực gồm các quyền: Lập pháp, hành pháp và tư pháp; mỗi nhánh quyền lực do một loại thiết chế Nhà nước thực hiện. Như Điều 22 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”; Điều 43 quy định: “Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”; Điều 63 quy định: “Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm có: Tòa án Tối cao, các Tòa án Phúc thẩm, các Tòa án Đệ nhị cấp và sơ cấp”. Từ những quy định này ta có thể nhận thấy, Hiến pháp năm 1946 đã bảo đảm được tính độc lập của quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; đã khẳng định có tính nguyên tắc là các cơ quan Quốc hội, Chính phủ và Tòa án đều là những cơ quan cao nhất của QLNN, mỗi cơ quan Nhà nước nắm một bộ phận QLNN. Chính những quy định này đã thể hiện sự phân công lao động quyền lực giữa các cơ quan cao nhất của QLNN khá rạch ròi, đồng thời bảo đảm được sự kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan đó.

Đồng thời với phương pháp kiểm soát giữa các cơ quan QLNN cao nhất, Hồ Chí Minh còn đề cập nhiều đến vai trò của cơ quan chuyên trách của Nhà nước trong việc kiểm soát. Đó là các Ban Thanh tra trong bộ máy Nhà nước. Không những thế, Người còn nhấn mạnh đến tính độc lập của các Ban Thanh tra này. Ngay trong Sắc lệnh số 64/SL, ngày 23/11/1945 đã có quy định về quyền hạn của Ban Thanh tra Đặc biệt trong việc “đình chức, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong Ủy ban Nhân dân hay Chính phủ đã phạm lỗi” và “sẽ thiết lập ngay tại Hà Nội một Tòa án Đặc biệt để xử những nhân viên của các Ủy ban Nhân dân hay các cơ quan của Chính phủ do Ban Thanh tra truy tố”. Những quy định trong Sắc lệnh số 64 đã thể hiện rõ quyền năng, vai trò của thanh tra trong việc phát hiện và xử lý những vi phạm pháp luật của nhân viên Nhà nước trong quá trình thực thi công vụ.

Trong Sắc lệnh số 138/SL ngày 18/12/1949 về việc thành lập Ban Thanh tra Chính phủ có quy định một trong những nhiệm vụ của Ban Thanh tra Chính phủ là: “Thanh tra các Ủy viên Ủy ban Kháng chiến hành chính và viên chức về phương diện liêm khiết”.

Sắc lệnh số 261/SL ngày 28/3/1956 về thành lập Ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ còn quy định rõ hơn nhiệm vụ của Ban này: Ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ có nhiệm vụ “thanh tra việc thực hiện kế hoạch Nhà nước, việc sử dụng, bảo quản tài sản Nhà nước, chống phá hoại, tham ô và lãng phí”.

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, công tác thanh tra, kiểm tra, đặc biệt là sự độc lập trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan này đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong công tác phòng, chống bệnh quan liêu, nạn tham ô, lãng phí cũng như các hành vi vi phạm khác trong hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính Nhà nước, trong thực thi công vụ của cán bộ, viên chức Nhà nước.

Thứ ba, kiểm soát QLNN từ bên ngoài Nhà nước

Phương pháp kiểm soát QLNN từ bên ngoài Nhà nước được thể hiện ở việc nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát thông qua các hình thức như bầu cử, phê bình…; thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đặc biệt là qua các phương tiện truyền thông, báo chí.

Trong các hình thức nhân dân kiểm soát quyền lực thì hình thức bầu cử giữ vai trò quan trọng. Đây được coi là “một hình thức hợp lý để nhân dân lao động thực hành quyền thống trị của mình”, vừa là hình thức kiểm soát các cơ quan quyền lực trong thời kỳ chuyển giao. Theo Hồ Chí Minh, để bảo đảm nguyên tắc tất cả QLNN thuộc về nhân dân, điều cần thiết hàng đầu là cơ quan QLNN phải được nhân dân bầu ra một cách tiến bộ và dân chủ. Bầu cử không chỉ là biện pháp dân chủ để thành lập ra Nhà nước mà còn là một phương thức để kiểm soát QLNN. Nhận thấy vai trò to lớn của bầu cử, ngay từ khi mới ra đời Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 3/9/1945, Hồ Chí minh đã đề nghị Chính phủ lâm thời sớm tổ chức một cuộc Tổng tuyển cử và xây dựng Hiến pháp.

Bầu cử dân chủ là phương thức buộc người trúng cử phải có trách nhiệm với nhân dân bầu ra mình, là phương thức để các công dân kiểm soát QLNN mà mình ủy thác ra. Ngoài hình thức bầu cử, nhân dân còn kiểm soát QLNN thông qua việc sử dụng “quyền bãi miễn” đại biểu mà mình đã bầu ra nhưng không làm tròn trách nhiệm được giao. Bãi miễn hay miễn nhiệm đối với người đại diện, đại biểu là một chế định pháp lý thể hiện tính chất dân chủ của Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Giai cấp công nhân có quyền bầu ra thì cũng có quyền bãi miễn họ, nếu họ không chịu sửa chữa khuyết điểm”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền bãi miễn đại biểu của cử tri đã được ghi nhận ngay từ Hiến pháp năm 1946: “Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu của mình đã bầu ra” (Điều 20).

Theo Hồ Chí Minh, nhân dân kiểm soát QLNN còn được thông qua việc tham gia hay “phúc quyết” của người dân đối với những vấn đề hệ trọng của đất nước. Điều thứ 32 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viện đồng ý. Cách thức phúc quyết sẽ do luật định”. Thực chất, đây là chế độ trưng cầu dân ý, một hình thức dân chủ trực tiếp quan trọng, đồng thời thể hiện việc kiểm soát của nhân dân đối với các quyết sách của Nhà nước đã được Hồ Chí Minh quan tâm và đề ra rất sớm ở nước ta. Người viết: “… chỉ có chế độ của chúng ta mới thật sự phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, bảo đảm mọi quyền lợi của nhân dân, mở rộng dân chủ để nhân dân thật sự tham gia quản lý nước”.

Cùng với các hình thức kiểm soát trên, việc góp ý, “phê bình”, “bày tỏ ý kiến” hay khiếu nại, tố cáo… của nhân dân đối với cán bộ trong bộ máy Nhà nước cũng là những hình thức quan trọng để kiểm soát QLNN. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “… phê bình và bày tỏ ý kiến… đó là những cách quần chúng kiểm soát những người lãnh đạo”; “dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”.

Việc bầu cử, miễm nhiệm, phê bình, khiếu nại, tố cáo của nhân dân trong kiểm soát QLNN có vai trò quan trọng, vì vậy Hồ Chí Minh luôn khuyến khích nhân dân góp ý, phê bình đối với các cơ quan QLNN. Người viết: “Chính phủ ta là Chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân”.

Thứ tư, kiểm soát QLNN của Đảng

Phương pháp kiểm soát QLNN của Đảng được coi là phương pháp có sự kết hợp giữa kiểm soát từ bên trong Nhà nước và kiểm soát từ bên ngoài Nhà nước. Phương pháp này trước hết được thể hiện ở việc thiết lập một thể chế “cầm quyền” của Đảng một cách hợp lý, đáp ứng được mục tiêu chính trị của Đảng là xây dựng một Nhà nước mà quyền lực của nó đều thuộc về nhân dân. Điều đó được thể hiện rõ qua mô hình “Đảng cầm quyền” mà Hồ Chí Minh đã đề cập ở một mức độ nhất định trong bản Hiến pháp năm 1946.

Với tư cách là người đứng đầu của Đảng khi đã lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã áp dụng phương thức cầm quyền của Đảng theo mô hình thông dụng, phổ biến trên thế giới: “Đảng cầm quyền”. Đảng cầm quyền tức là Đảng đã thực hiện kiểm soát QLNN, bảo đảm cho quyền lực đó mới đúng là quyền lực của nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân. Đảng cầm quyền tức là Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về các mặt hoạt động của Nhà nước; Nhà nước mạnh tức là Đảng mạnh. Hồ Chí Minh hiểu rõ rằng, dưới con mắt của nhân dân, Đảng và Chính phủ không phải là hai mà là một. Theo Người, Đảng cầm quyền thì QLNN mới có thể bảo đảm thực sự là quyền lực của nhân dân, thực sự vì lợi ích của nhân dân.

Người còn chỉ rõ rằng, để giữ địa vị lãnh đạo trong xã hội và vị thế là Đảng cầm quyền, Đảng cần thường xuyên giáo dục, xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng có năng lực về chuyên môn, về công tác lãnh đạo, quản lý; có phẩm chất đạo đức, uy tín cao để sẵn sàng ứng cử vào giữ các cương vị chủ chốt trong bộ máy Nhà nước các cấp. Những đảng viên đang hoạt động trong bộ máy Nhà nước đều phải sinh hoạt trong các tổ chức của Đảng, chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng nhằm để làm tốt trách nhiệm của mình là những “người đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Việc Đảng kiểm tra, giám sát, làm trong sạch đội ngũ đảng viên đang giữ những vị trí chủ chốt của các cơ quan QLNN tức là Đảng đã thực hiện sự kiểm soát QLNN. Điều đó cho thấy, nếu Đảng có tính tổ chức kỷ luật càng cao thì việc kiểm soát của Đảng đối với các đảng viên trong các cơ quan của bộ máy Nhà nước càng có hiệu quả. Chính vì điều đó mà Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến chất lượng sinh hoạt Đảng, bảo đảm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Người đã phê bình nghiêm khắc các tệ lạm dụng quyền lực của các đảng viên với tư cách là những người có chức quyền trong bộ máy Nhà nước.

Công tác kiểm tra của Đảng cầm quyền bao gồm các hoạt động chủ yếu, như: Kiểm tra, thanh tra, giám sát việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, việc thực hiện nguyên tắc tổ chức sinh hoạt, giữ gìn kỷ luật của Đảng. Trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là đặc biệt quan trọng. Công tác kiểm tra được Hồ Chí Minh ví như “ngọn đèn pha” giúp cho việc lãnh đạo và cầm quyền đúng đắn. Người chỉ rõ: “Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”.

5. Quan điểm về kiểm soát quyền lực Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Quyền lực trong các tổ chức công quyền ở nước ta hiện nay là quyền lực nhà nước. Về bản chất, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân trên nền tảng chính trị - xã hội do Đảng lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật, tổ chức quản lý xã hội bằng pháp luật một cách dân chủ và bảo đảm thượng tôn pháp luật. Quyền lực nhà nước được giao cho một số cá nhân là cán bộ, công chức để thực hiện các hoạt động quản lý xã hội. Như vậy, khi cán bộ, công chức thực hiện công vụ là đang đại diện, sử dụng các nguồn lực của Nhà nước để thực hiện công vụ.

Trong các tổ chức công, quyền lực là của Nhà nước, người thực thi công vụ là đại diện cho Nhà nước và sử dụng quyền lực của Nhà nước để thực hiện công việc. Với vị trí, vai trò là công cụ đặc biệt của các nhà quản lý, quyền lực luôn gắn với lợi ích nên dễ bị lợi dụng vào những mục đích tư lợi, cá nhân, nhất là những cá nhân được giao thực hiện nhiệm vụ công. Công cụ quyền lực được phát huy mạnh mẽ trong những tổ chức công do tính mệnh lệnh cao của mô hình tổ chức cơ học. Cán bộ, công chức, viên chức khi thực hiện công vụ là đại diện cho Nhà nước nên hình ảnh, hành động, lời nói không còn mang tính cá nhân mà đại diện cho cơ quan, đơn vị, Nhà nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp dĩ công vi tư”. Người cũng đã cảnh báo nguy cơ những cán bộ có chức, có quyền dễ mắc phải “căn bệnh” lạm quyền, lộng quyền, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền. Do đó, quyền lực cần phải được kiểm soát chặt chẽ. Việc kiểm soát quyền lực không chỉ để cho người có quyền lực sử dụng đúng mục đích, không lạm dụng quyền vào những việc tư lợi mà còn nhằm bảo vệ, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các cá nhân, đơn vị.

Quy định số 205/QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền đã giải thích cụ thể về khái niệm kiểm soát quyền lực: “Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ là việc sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm thực hiện nghiêm túc các quy định về công tác cán bộ; phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước, nhất là các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, lộng quyền hoặc không thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và những việc phải làm trên cương vị được giao trong công tác cán bộ”(3). Quy định đã chỉ rõ những hành vi bị cấm trong công tác cán bộ nhằm kiểm soát quyền lực. Quy định cũng xác định rõ trách nhiệm của các bộ phận, các cấp trong việc kiểm soát quyền lực. Đồng thời, đề ra chủ trương, định hướng rõ ràng việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ cũng như chống chạy chức, chạy quyền.