1.Cầm cố giấy tờ có giá
Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá (GTCG) (sau đây gọi tắt là cho vay cầm cố) là hình thức cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là NHNN) đối với các ngân hàng trên cơ sở cầm cố GTCG thuộc sở hữu của ngân hàng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ.
Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã từng quy định cụ thể về việc cầm cố cả giấy tờ có giá. Năm 2015, Dự thảo Bộ luật Dân sự trình Quốc hội cũng viết rõ về việc cầm cố giấy tờ có giá. Tuy nhiên, ủy ban thưòng vụ Quốc hội đã không đồng tình với quy định này bằng việc lý giải như sau:
“Điều 326 Bộ luật Dân sự hiện hành xác định bản chất của biện pháp cầm cố là phải có hành vi giao tài sản.
Tuy nhiên, Điều 321 dự thảo Bộ luật Dân sự do Chính phủ trình Quốc hội đã mở rộng phương thức thực hiện của biện pháp cầm cố, theo đó cầm cố không chỉ gồm giao tài sản mà còn bao gồm cả không chuyển giao tài sản nhưng bên nhận bảo đảm có quyền kiểm soát, chi phốĩ tài sản bảo đảm. Cùng với sự thay đổi này, các loại tài sản được cầm cố đã mỏ rộng ra đối với quyền đòi nợ, chứng khoán, công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác và thẻ tiết kiệm.
Nhiều ý kiến không tán thành với quy định này và cho rằng, quy định phương thức cầm cố bao gồm cả việc không chuyển giao tài sản cho bên nhận bảo đảm là trùng lặp với biện pháp thế chấp quy định tại Điều 316. Hơn nữa, quyền đòi nợ, chứng khoán, công cụ chuyển nhượng, giấy tò có giá khác và thẻ tiết kiệm bản chất không phải là “tài sản” trong quan hệ bảo đảm này mà là giấy tờ chứng minh quyền tài sản.
UBTVQH đề nghị tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội và giữ lại các quy định hiện hành về biện pháp bảo đảm cầm cố tại Điều 308 để tránh trùng lặp với biện pháp thế chấp và đúng bản chất của cầm cố.
Quan điểm nêu trên của UBTVQH là không hợp lý. Vì chính Bộ luật Dân sự năm 2015 đã khẳng định giấy tờ có giá cũng là một loại tài sản và cũng cho phép ký quỹ bằng giấy tờ có giá, thì không có lý do gì không cho phép việc cầm cố, thế chấp giấy tò có giá. Ngoài ra, có nhiều đạo luật khác cũng quy định rõ việc cầm cố giấy tờ có giá, chẳng hạn như quy đỉnh về cầm cố công trái, hốỉ phiếu, giấy tờ có giá. Còn nếu không cho phép cầm cố giấy tờ có giá thì phải giải quyết từ gốc, đó là không coi giấy tờ có giá là một loại tài sản, mà chỉ là bằng chứng để ghi nhận, xác nhận hay chứng minh quyền sở hữu tài sản.
Từ đó Bộ luật Dân sự năm 2015 tiếp tục chỉ quy định cầm cố tài sản là việc giao tài sản, mà không nêu rõ tài sản cầm cố có bao gồm giấy tò có giá hay không.
Tuy nhiên, về bản chất giấy tờ có giá là một loại tài sản, nên đương nhiên vẫn được phép cầm cố. Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ “Quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ” cũng không quy định cụ thể về việc cầm cố hay thế chấp.
2. Điều kiện cầm cố giấy tờ có giá trong một số trường hợp
Pháp luật quy định về điều kiện cầm cố giấy tờ có giá trong một số trường hợp như sau:
Điều kiện đầu tiên là theo Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005, việc cầm cố hôì phiếu (gồm hối phiêu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ) được thực hiện khi hối phiếu có đủ các điều kiện để được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật);
Điều kiện thứ hai là theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, việc cầm cố cổ phần, cổ phiếu của các tổ chức tín dụng cổ phần cũng bị hạn chê trong một sô trường hợp tại thời điểm cầm cố hoặc thời điểm phải xử lý chuyển nhượng cổ phần. Đó là, tổ chức tín dụng không được nhận bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng để cấp tín dụng. Và cổ đông là cá nhân, cổ đông là tổ chức có người đại diện là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc của tổ chức tín dụng cổ phần không được chuyển nhượng cổ phần của mình trong thời gian đảm nhiệm chức vụ. Việc pháp luật quy định không được chuyển nhượng cổ phần, tức là bị hạn chế quyền định đoạt và cũng tương đương với việc không được cầm cố trong trường hợp này;
Điều kiện thứ ba là theo Nghị định số 126/2017/NĐ-CP, nhà đầu tư chiến lược được mua cổ phần của doanh nghiệp nhà nưổc cổ phần hoá, bị hạn chế việc cầm cố cổ phần vì vướng quy định không được chuyển nhượng số cổ phần mua trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày công ty cổ phần được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Trường hợp đặc biệt cần chuyển nhượng số cổ phần này trước thời hạn trên thì phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận. Như vậy, nếu việc cầm cố không được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận, thì khi xử lý cổ phiếu cầm cố, sẽ không được chuyển nhượng cho người khác trong thời hạn trên;
Điều kiện thứ tư là theo Luật Doanh nghiệp năm 2020, việc cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ tài sản là cổ phần, cổ phiếu của cổ đông sáng lập bị hạn chế khi phải xử lý tài sản bảo đảm vì quy định trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác; nếu chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập thì phải được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Vì vậy, để tránh vưống mắc, thì cần được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông tại thời điểm cầm cô", thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, đồng thời với việc cho phép chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập.
Nghị định số 21/2021/NĐ-CP đã không còn quy định về quyền của bên nhận cầm cố vận đơn, giấy tờ có giá như Nghị định số 163/2006/NĐ-CP trước đó.
3. Điều kiện cho vay cầm cố
Trên cơ sở định hướng điều hành chính sách tiền tệ và lượng tiền cung ứng từng thời kỳ, Ngân hàng Nhà nước quyết định thực hiện cho vay cầm cố đối với các tổ chức tín dụng khi có đủ các điều kiện sau:
1. Là các tổ chức tín dụng quy định tại Điều 3 của Thông tư này và không bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt;
2. Có giấy tờ có giá đủ tiêu chuẩn và thuộc danh mục các giấy tờ có giá được sử dụng cầm cố vay vốn tại Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại Điều 8 của Thông tư này;
3. Có mục đích vay vốn phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ;
4. Có hồ sơ đề nghị vay cầm cố tại Ngân hàng Nhà nước theo đúng quy định tại Điều 15 của Thông tư này;
5. Không có nợ quá hạn tại Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm đề nghị vay vốn;
6. Có cam kết về sử dụng tiền vay cầm cố đúng mục đích, trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng Nhà nước đúng thời gian quy định.
4. Thời hạn cho vay cầm cố
1. Thời hạn cho vay cầm cố là dưới 12 tháng và không vượt quá thời hạn còn lại của giấy tờ có giá được cầm cố. Thời hạn cho vay cầm cố bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ. Trường hợp ngày trả nợ trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ thì thời hạn cho vay được kéo dài đến ngày làm việc tiếp theo.
2. Căn cứ mục đích vay vốn của tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước quyết định thời hạn cho vay, kỳ hạn thu nợ trong từng trường hợp cụ thể.
3. Trường hợp đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước có thể xem xét gia hạn khoản vay cầm cố trên cơ sở đề nghị của tổ chức tín dụng và lý do gia hạn phù hợp với định hướng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước.
Khi có nhu cầu đề nghị gia hạn khoản vay cầm cố tại Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng gửi 01 văn bản đề nghị gia hạn khoản vay cầm cố (trong đó giải trình rõ lý do đề nghị gia hạn) trực tiếp hoặc qua đường bưu điện tới Ngân hàng Nhà nước. Trong thời hạn tối đa 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị gia hạn khoản vay cầm cố, Ngân hàng Nhà nước có thông báo bằng văn bản cho tổ chức tín dụng đề nghị gia hạn về việc chấp thuận hoặc không chấp thuận gia hạn khoản vay cầm cố và gửi cho các đơn vị liên quan.
5. Đối tượng được vay cầm cố tại Ngân hàng Nhà nước
Các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng, bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, Quỹ tín dụng nhân dân trung ương và chi nhánh ngân hàng nước ngoài (sau đây gọi tắt là tổ chức tín dụng).
Mục đích cho vay cầm cố
Ngân hàng Nhà nước cho vay cầm cố đối với các tổ chức tín dụng nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các tổ chức tín dụng.
Nguyên tắc cho vay cầm cố
Việc cho vay cầm cố của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng thực hiện theo các nguyên tắc sau:
1. Khoản cho vay cầm cố được bảo đảm bằng các giấy tờ có giá đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 8 của Thông tư này;
2. Tổ chức tín dụng được vay cầm cố phải sử dụng vốn vay đúng mục đích, hoàn trả nợ gốc và lãi vay Ngân hàng Nhà nước đầy đủ, đúng hạn.
Phương thức thực hiện cho vay cầm cố
1. Phương thức trực tiếp: Các tổ chức tín dụng giao dịch trực tiếp với Ngân hàng Nhà nước.
2. Phương thức gián tiếp: Các tổ chức tín dụng giao dịch thông qua hệ thống mạng giao dịch nghiệp vụ thị trường tiền tệ theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.
Cấp mã số, mã khóa, mã chữ ký điện tử
Các tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cấp mã số, mã khóa, mã chữ ký điện tử cho những người đại diện của tổ chức tín dụng để giao dịch qua hệ thống mạng giao dịch nghiệp vụ thị trường tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong các giao dịch cho vay cầm cố nhằm bảo đảm an toàn, bảo mật.
Giấy tờ có giá được cầm cố
1. Tiêu chuẩn giấy tờ có giá được cầm cố:
a) Được phép chuyển nhượng;
b) Thuộc sở hữu hợp pháp của tổ chức tín dụng đề nghị vay;
c) Có thời hạn còn lại tối thiểu bằng thời gian vay;
d) Không phải là giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng đề nghị vay phát hành.
2. Danh mục, thứ tự ưu tiên các giấy tờ có giá được sử dụng cầm cố vay vốn và tỷ lệ giữa giá trị giấy tờ có giá và số tiền vay cầm cố tại Ngân hàng Nhà nước do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ.
Giá trị giấy tờ có giá được sử dụng làm tài sản bảo đảm cho khoản vay cầm cố
1. Giá trị giấy tờ có giá được sử dụng làm tài sản bảo đảm cho khoản vay cầm cố là tổng giá trị phát hành của giấy tờ có giá được tính theo mệnh giá.
2. Tỷ lệ bảo đảm của giá trị giấy tờ có giá so với số tiền vay cầm cố được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ.