1.Khái niệm cầm giữ tài sản là gì ?

Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ1. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau.

2.Biện pháp cầm giữ lần đầu tiên được quy định tại Điều 30 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 1990

Biện pháp cầm giữ lần đầu tiên được quy định tại Điều 30 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 1990. Theo đó, chủ nợ có quyền cầm giữ hàng hải theo luật định đối với tàu biển để bảo đảm cho các khoản nợ ưu tiên, mặc dù tàu biển đó đã được cầm giữ, cầm cố, thế chấp để bảo đảm cho các khoản nợ khác trên cơ sở hợp đồng hoặc
quyết định của Toà án. Tuyên bôz của chủ nỢ về việc cầm giữ hàng hải đối với tầu biển chỉ có giá trị sau khi đă được ghi nhận vào “Sổ đăng ký tàu biển quốc gia”, nơi tàu đã đăng ký.

Năm 2005, Luật Thương mại quy định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên đại diện có quyền cầm giữ tài sản, tài liệu được giao để bảo đảm việc thanh toán các khoản thù lao và chi phí đã đến hạn.

Cầm giữ tài sản là một cơ chế pháp lý để bảo vệ bên có quyền được thanh toán trong các hợp đồng mà hai bên đều có nghĩa vụ. cầm giữ tài sản là một biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự và đã được quy định tại hai Bộ luật Dân sự năm 1995 và 2005. Vì trước đây, biện pháp này không được coi là một biện pháp bảo đảm, nên không được đưa vào mục giao dịch bảo đảm, mà được quy định trong mục thực hiện hợp đồng dân sự.

3.Đặc điểm của cầm giữ tài sản 

Cầm giữ tài sản có hai đặc điểm quan trọng cụ thể đó là:

– Đặc điểm đầu tiên vô cùng quan trọng đó là việc cầm giữ tài sản phát sinh không dựa trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên bảo đảm. Việc cầm giữ tài sản phát sinh khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình.

Cầm giữ tài sản là một biện pháp tự vệ trong quan hệ dân sự được pháp luật Việt Nam xây dựng nhằm mục đích chính là để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bên có quyền. Đối với biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự này, pháp luật nước ta cho phép bên có quyền cầm giữ tài sản của bên có nghĩa vụ mà không cần xem xét nguyên nhân khiến cho bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ thỏa thuận. Việc bên có quyền chiếm giữ tài sản của bên có nghĩa vụ không được trái với các quy định của pháp luật.

– Một đặc điểm nữa đó là việc cầm giữ tài sản không có thời hạn. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 349 Bộ Luật dân sự năm 2015 quy định bên cầm giữ chỉ phải giao lại tài sản cầm giữ khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện xong nghĩa vụ với mình. Hiểu một cách đơn giản hơn, việc cầm giữ tài sản không quy định thời hạn cụ thể mà kéo dài cho đến khi bên vi phạm nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ.

4. Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ giao tài sản cầm cố

Một là, thỏa thuận về giao tài sản cầm cố quy định tại khoản 1 Điều 311 của Bộ luật Dân sự có thể là việc bên cầm cố giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố giữ hoặc giao cho người thứ ba giữ. Bên nhận cầm cố có thể giữ tài sản cầm cố tại nơi có tài sản hoặc tại địa điểm do mình lựa chọn.

Hai là, trường hợp tài sản cầm cố là vật có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị thì bên nhận cầm cố đang giữ tài sản đó phải thông báo cho bên cầm cố và yêu cầu bên cầm cố cho biết cách giải quyết trong thời hạn hợp lý; nếu hết thời hạn đó mà bên cầm cố không trả lời thì bên nhận cầm cố thực hiện biện pháp cần thiết để ngăn chặn.

Ba là, trường hợp tài sản cầm cố là vật do người thứ ba giữ mà có nguy cơ bị mất, hư hỏng, mất giá trị hoặc giảm sút giá trị thì quyền và nghĩa vụ giữa người thứ ba và bên nhận cầm cố được thực hiện theo hợp đồng gửi giữ tài sản.

Bốn là, quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 31 không áp dụng trong trường hợp vật cầm cố bị hao mòn tự nhiên.

Bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố: Trường hợp bên nhận cầm cố đồng ý hoặc luật khác liên quan có quy định về việc bên cầm cố được bán, được thay thế, được trao đổi hoặc được tặng cho tài sản cầm cố thì biện pháp cầm cố chấm dứt kể từ thời điểm bên mua tài sản, bên nhận thay thế tài sản, bên nhận tặng cho tài sản xác lập quyền sở hữu đối với tài sản cầm cố theo quy định tại Điều 161 của Bộ luật Dân sự.

5.Quy định chung của pháp luật về cầm cố tài sản

Bộ luật Dân sự năm 2015, ngoài việc quy định cầm giữ tài sản trong mục “bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”, cũng vẫn có một điều về “cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ” ở mục “Hợp đồng”. Đó là quy định, trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình thì bên có quyền xác lập quyền cầm giữ tài sản đối vái tài sản của bên có nghĩa vụ theo quy định về cầm giữ tài sản cầm giữ tài sản chỉ là một biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự, mà không phải là một giao dịch bảo đảm. Trong quan hệ cầm giữ tài sản, các bên không có thỏa thuận về việc bên sở hữu tài sản bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm nghĩa vụ dân sự. cầm giữ tài sản phát sinh từ thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ1. Vì vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản. Thực ra quy định này là không cần thiết, vì bên có nghĩa vụ thanh toán trong trường hợp này không phải là bên bảo đảm. Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định rõ tài sản cầm giữ là gì, nhưng có thể suy luận, tài sản cầm giữ trong hợp đồng song vụ bao gồm động sản là tài sản hiện hữu, giấy tờ có giá; đồng thời không bao gồm vật là bất động sản, quyền tài sản và mọi tài sản hình thành trong tương lai. Một vấn đề chưa rõ là, liệu tài sản đang được cầm giữ có thể chính là một số tiền nhất định không? Chẳng hạn khi ngân hàng hoặc người khác vận chuyển, trông giữ một thùng tiền của khách hàng theo hợp đồng dịch vụ vận chuyển hay gửi giữ tài sản. Trong quá trình đó, tài sản gặp rủi ro có nguy cơ bị hủy hoại, buộc người vận chuyển, trông giữ tiền phải tiến hành việc cứu tài sản như chữa cháy tiền hoặc tẩy rửa hoá chất để ngăn chặn việc tiền bị hủy hoại mất giá trị. Khi đó hoàn toàn có thể đặt ra tình huống được áp dụng biện pháp cầm giữ tài sản là thùng tiền và bên nhận vận chuyển, trông giữ chỉ giao trả tài sản khi đã nhận được tiền đền bù chi phí cần thiết cho việc bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ.

Bên cầm giữ có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ; yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thanh toán chi phí cần thiết cho việc bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ; được khai thác tài sản cầm giữ để thu hoa lợi, lợi tức nếu được bên có nghĩa vụ đồng ý. Giá trị của việc khai thác tài sản cầm giữ được bù trừ vào giá trị nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ.

Cầm giữ tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên cầm giữ chiếm giữ tài sản. Như vậy, nếu tài sản cầm giữ đang là tài sản thế chấp đã được đăng ký thế chấp, thì hiệu lực đối kháng đối với biện pháp cầm giữ phát sinh sau, tức là bên cầm giữ có quyền ưu tiên sau bên thế chấp.

Vì chỉ là một biện pháp tình thế “bắt giữ” để đòi hỏi quyền lợi, chứ không phải là một thỏa thuận giao dịch bảo đảm từ trước, nên bên cầm giữ không có quyền xử lý tài sản cầm giữ như các bên nhận bảo đảm được quyền xử lý tài sản bảo đảm.

Việc cầm giữ tài sản chỉ phát sinh hiệu lực (nghĩa vụ thanh toán) đốì với bên sở hữu tài sản bị cầm giữ, chứ không phát sinh hiệu lực và không có môì quan hệ với người nhận thế chấp. Bên cầm giữ có các nghĩa vụ: giữ gìn, bảo quản tài sản cầm giữ; không được thay đổi tình trạng của tài sản cầm giữ; không được chuyển giao, sử dụng tài sản cầm giữ nếu không có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ; giao lại tài sản cầm giữ khi nghĩa vụ đã được thực hiện; bồi thường thiệt hại nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm giữ.

Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định bên cầm giữ có quyền ưu tiên thanh toán, mà chỉ có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trong đó có nghĩa vụ thanh toán, phát sinh từ hợp đồng song vụ. Tuy nhiên, vì bên cầm giữ lại có quyền cầm giữ, có quyền không giao tài sản cho bên nhận thế chấp hoặc bất kỳ bên nào khác cho đến khi được thanh toán đầy đủ khoản nợ phát sinh, gồm cả chi phí cần thiết cho việc bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ, nên thành ra trỏ thành có quyền ưu tiên cao nhất trên thực tế, kể cả trường hợp việc cầm giữ diễn ra sau thời điểm đăng ký thế chấp. Hay nói cách khác, bên nhận thế chấp chỉ có thể thu hồi, xử lý tài sản thế chấp sau khi bên cầm giữ đã nhận được tiền thanh toán trong môì quan hệ cầm giữ.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ Tổng đài tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến:1900.6162 Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email:

Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê