1. Khái niệm về giao dịch bảo đảm
Biện pháp bảo đảm (BPBĐ) là công cụ hữu hiệu nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm của bên có nghĩa vụ, vừa bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của bên có quyền. Trong giao lưu dân sự, đặc biệt là trong quan hệ kinh doanh - thương mại, BPBĐ có vai trò rất quan trọng.
“BPBĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự là biện pháp trong đó một bên sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình hoặc sử dụng uy tín của mình (gọi là bên bảo đảm) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình hoặc của chủ thể khác (gọi là bên được bảo đảm)”. Các BPBĐ theo pháp luật Việt Nam chủ yếu có tính chất tài sản, trừ biện pháp tín chấp. Nhìn chung, pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước khá tương đồng về khái niệm BPBĐ tuy có sự khác nhau trong việc sử dụng thuật ngữ. Theo hướng dẫn của UNCITRAL thì “Giao dịch bảo đảm (GDBĐ) là giao dịch xác lập lợi ích bảo đảm. Mặc dù việc chuyển nhượng tuyệt đối khoản phải thu không bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, nhưng để thuận tiện cho việc dẫn chiếu, GDBĐ bao gồm cả việc chuyển nhượng khoản phải thu”, trong đó lợi ích bảo đảm là một lợi ích tài sản gắn với một tài sản nhất định nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ nhất định. Theo pháp luật của Mỹ thì GDBĐ cũng là giao dịch xác lập lợi ích bảo đảm. Có thể thấy, “lợi ích bảo đảm” khá tương đồng với “BPBĐ”.
Pháp luật Việt Nam và pháp luật của các nước đều thừa nhận bên bảo đảm có quyền sử dụng tài sản bao gồm vật, giấy tờ có giá, quyền tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của mình.
2. Hợp đồng bảo đảm là gì?
Tại khoản 5 Điều 3 Nghị định 21/2021/NĐ-CP Quy định về thi hành bộ luật Dân sự về đảm bảo thực hiên nghĩa vụ, hợp đồng bảo đảm được hiểu như sau:
Hợp đồng bảo đảm bao gồm hợp đồng cầm cố tài sản, hợp đồng thế chấp tài sản, hợp đồng đặt cọc, hợp đồng ký cược, hợp đồng ký quỹ, hợp đồng mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu, hợp đồng bảo lãnh hoặc hợp đồng tín chấp.
Hợp đồng bảo đảm có thể là sự thỏa thuận giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm hoặc thỏa thuận giữa bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm và người có nghĩa vụ được bảo đảm.
Hợp đồng bảo đảm có thể được thể hiện bằng hợp đồng riêng hoặc là điều khoản về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hình thức giao dịch dân sự khác phù hợp với quy định của pháp luật.
3. Quy định về tranh chấp dân sự
3.1. Tranh chấp dân sự là gì?
Hiện nay, pháp luật chưa có một khái niệm rõ ràng về tranh chấp dân sự. Tranh chấp dân sự được hiểu là những tranh chấp xảy ra giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự về các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản được pháp luật bảo vệ.
Các loại tranh chấp dân sự phổ biến hiện nay là: tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, tranh chấp về hợp đồng dân sự, tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, các vấn đề về ly hôn,…
3.2. Phương thức giải quyết tranh chấp dân sự
Khi phát sinh vấn đề cần giải quyết tranh chấp dân sự, các bên đều mong muốn tìm được biện pháp giải quyết tranh chấp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi của mình, ít tốn kém thời gian và tiền bạc. Vì vậy, lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp là vô cùng quan trọng. Hiện nay, phương thức giải quyết tranh chấp dân sự: thương lượng, hòa giải, khởi kiện.
- Thương lượng
Thương lượng là phương thức giải quyết đầu tiên trong quá trình giải quyết tranh chấp. Các bên chủ động gặp gỡ, bàn bạc, thỏa thuận về quyền và lợi ích hợp pháp cũng như nghĩa vụ của mỗi bên.
- Hòa giải
Hòa giải là việc các bên tiến hành “thương lượng giải quyết tranh chấp” với sự hỗ trợ của người trung gian. Đây cũng được xem là phương thức giải quyết tranh chấp không chịu sự điều chỉnh của pháp luật, được thực hiện hòa toàn dựa trên thiện chí của các bên.
- Khởi kiện
Khi các phương thức thương lượng, hòa giải không đem lại kết quả, các chủ thể mới lựa chọn phương thức khởi kiện lên Tòa án để giải quyết.
4. Giải quyết tranh chấp bằng hình thức khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền
Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được về việc xử lý tài sản bảo đảm, thì buộc phải khởi kiện ra Toà án và theo đuổi vụ án giải quyết tranh chấp như một vụ án thông thường, mất rất nhiều thời gian, chi phí.
Yêu cầu giải quyết tranh chấp về tài sản bảo đảm nhiều nhất là các tổ chức tín dụng. Thực tiễn xử lý nợ cho thấy các tổ chức tín dụng phải sử dụng nhiều giải pháp để xử lý nợ, nhưng nếu không đem lại hiệu quả thì khởi kiện ra Toà án để thu hồi nợ sẽ là giải pháp cuối cùng. Quá trình này thường mất rất nhiều thời gian (Toà án giải quyết xong một vụ án thường mất một vài năm) và chi phí của tổ chức tín dụng. Đặc biệt, muốn xử lý tài sản thế chấp thì không khởi kiện được thẳng bên có tài sản thế chấp, mà phải kiện bên vay vốn (được cấp tín dụng).
Nguyên nhân khó khăn, vướng mắc là do cơ chế, thủ tục xử lý tài sản bảo đảm còn rườm rà, phức tạp và phụ thuộc quá nhiều vào ý chí của bên bảo đảm (bên có nghĩa vụ thanh toán nợ) như người bị kiện, người có quyền và nghĩa vụ liên quan bỏ trốn khởi nơi cư trú, cố ý trì hoãn vắng mặt nhiều lần ở phiên toà. Có nhiều trường hợp người vay vốn, người thế chấp, bảo lãnh vay vốn bị khởi tố, điều tra xử lý trong một vụ án hình sự khác không liên quan đến việc người vay vốn, bên thế chấp, bên bảo lãnh vay vốn tại tổ chức tín dụng, nhưng Toà án vẫn ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án để chờ kết quả giải quyết của cơ quan điều tra. Hoặc tổ chức tín dụng cũng phải chò đợi khi Toà án quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án để đợi cơ quan nhà nước có thẩm quyền trả lời về nội dung Toà án có văn bản hỏi.
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không quy định nguyên đơn, bị đơn và các chủ thể khác tham gia tố tụng dân sự là cá nhân và pháp nhân mà lại quy định là “cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Tuy nhiên, các cơ quan, tổ chức đó đều phải có tư cách pháp nhân (nếu không thì chỉ là cá nhân). Trên thực tế, Toà án chưa từng chấp nhận chủ thể tham gia quan hệ tố tụng dân sự là hộ gia đình hay doanh nghiệp tư nhân, mà là các thành viên của hộ gia đình hay chủ doanh nghiệp tư nhân.
Khi nộp Đơn khởi kiện, dù đã ghi đầy đủ các nội dung của Đơn khởi kiện và nộp đầy đủ hồ sơ liên quan trực tiếp đến khoản nợ như hợp đồng tín dụng, hợp đồng thê' chấp, khế ước nhận nợ, nhưng trên thực tế thì vẫn thường xuyên bị Toà án yêu cầu kèm theo nhiều giấy tờ pháp lý của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như bản sao hộ khẩu, Chứng minh nhân dân của bị đơn là cá nhân; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Điều lệ của bị đơn là doanh nghiệp. Những tài liệu này không hề được đề cập trong các quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cũng như trong các văn bản hướng dẫn, kể cả mẫu Đơn khởi kiện.
Trong nhiều năm qua, đã có quá nhiều Đơn khởi kiện không được Toà án thụ lý hoặc bị đình chỉ vì lý do không xác định được địa chỉ của bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (kể cả đã làm thủ tục thông báo vắng mặt). Khi đó, vụ án sẽ bị kéo dài vô thời hạn vì đương sự đã dễ dàng vô hiệu hoá pháp luật, qua mặt cơ quan tư pháp, coi thường Toà án, chống đối công lý, chỉ bằng cách thức rất đơn giản là thay đổi địa chỉ hay phớt lờ lệnh của Toà án.
Một trong những vướng mắc thường gặp phải trong quá trình khởi kiện là Toà án trả lại Đơn khởi kiện hoặc Quyết định tạm đình chỉ vụ án vì lý do “không ghi đúng địa chỉ của bị đơn” hay “chưa tìm được địa chỉ của bị đơn” (lý do không đúng luật), do bị đơn thay đổi địa chỉ hoặc cố tình không phản hồi các yêu cầu phát sinh trong quá trình tố tụng. Mặc dù điều này đã được quy định rõ: “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sồ mà không thông báo địa chỉ mối cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung”. Cũng trong tình huống này, thì Trọng tài thương mại lại hoàn toàn chủ động giải quyết theo trình tự vắng mặt bị đơn.
Khác với phán quyết của Trọng tài thương mại có hiệu lực thi hành ngay, nếu Bản án, quyết định của Toà án sơ thẩm bị các đương sự kháng cáo, Viện kiểm sát hoặc Chánh án kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm.
5. Thời hiệu khởi kiện hợp đồng bảo đảm
Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Chẳng hạn, đối với hợp đồng cho vay, nếu hết thời hiệu khởi kiện thì người cho vay sẽ mất quyền khởi kiện đòi nợ tại Toà án và Trọng tài. Tức là, bên cho vay coi như mất trắng cả tiền gốc và lãi, còn bên đi vay thì được xoá nợ một cách hợp pháp.
Từ ngày 31/12/2016 trở về trước, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng, trong đó có hợp đồng bảo đảm là hai năm, kể từ ngày cá nhân, pháp nhân “biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”; nếu xảy ra tranh chấp (ngày khởi kiện). Từ ngày 01/01/2017 trở đi thì thời hiệu khởi kiện là ba năm, “kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.
Tuy nhiên, có 4 trưòng hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện là: yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản, yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, tranh chấp về quyền sử dụng đất, trưòng hợp khác do luật quy định.
Cũng không tính vào thời hiệu khởi kiện trong khoảng thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu hoặc chưa có người đại diện cho người quyền khởi kiện chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Khi thời hiệu khởi kiện chưa hết, thì thời hiệu khởi kiện bắt đầu lặp lại trong ba trường hợp sau đây: bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đôi với người khởi kiện; các bên đã tự hòa giải với nhau.
Vì hợp đồng bảo đảm thực chất chỉ là một hợp đồng phụ, là một bộ phận của hợp đồng cho vay, mua bán, dịch vụ, nên việc khởi kiện nói chung và thời hiệu khởi kiện để giải quyết tranh chấp nói riêng được tính theo thời hiệu khởi kiện hợp đồng chính.
Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự nói chung, vụ kiện đòi tiền cho vay nói riêng từ trưổc đến nay luôn như một cái bẫy pháp lý quá phức tạp, với quá nhiều thay đổi và rất khó theo dõi, thực hiện.
Trong khoảng 25 năm qua, pháp luật đã có ít nhất 6 lần thay đổi về thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng nói chung và hợp đồng cho vay nói riêng, vởi thời hiệu lần lượt là vô hạn, 3 năm, 6 tháng, 2 năm, vô hạn, 2 năm và 3 năm hoặc vô hạn. Ngoài ra, còn nhiều thời hiệu khởi kiện khác được quy định tại một số đạo luật chuyên ngành.
Thời hiệu khởi kiện đòi nợ không bị hạn chế trước thời điểm 01/7/1991.
Từ ngày 01/7/1991 đến 30/6/1994: thời hiệu khởi kiện đòi nợ đối với tranh chấp dân sự là 3 năm1.
Từ ngày 01/7/1994 đến 30/6/2006: thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng kinh tế chỉ là 6 tháng .
Từ ngày 01/7/1996 đến 31/12/2005: thời hiệu khởi kiện là vô thời hạn .
Từ ngày 01/01/2006 đến hết ngày 31/12/2011: thời hiệu khởi kiện là 2 năm1.
Từ ngày 01/01/2012 đến ngày 30/6/2016: thời hiệu khởi kiện nói chung là 2 năm, riêng kiện đòi nợ là vô thời hạn .
Từ ngày 01/7/2016 đến ngày 31/12/2016: thời hiệu khởi kiện nói chung và đòi nợ đều là 2 năm.
Từ ngày 01/01/2017, thời hiệu khởi kiện là 3 năm. Bộ luật Dân sự năm 2015 (thay thế cho Bộ luật Dân sự năm 2005), đã bỏ đi trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện là “đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu” đã được quy định tại Bộ luật Tô' tụng dân sự trước đây, mà chỉ còn quy định trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện là “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu”.
Việc đòi lại tài sản trong hợp đồng vay tài sản nói chung, vay tiền nói riêng, không áp dụng được thời hiệu khởi kiện trong trường hợp “yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu” vì bên cho vay không còn quyền số hữu tài sản là tiền vay kể từ khi giải ngân cho bên vay theo quy định sau: “bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó”.
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng”, mà lại không đề cập đến Trọng tài, trong khi đó, Bộ luật lại quy định “trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tố" tụng tại Toà án hoặc trọng tài”.
Vì vậy, nếu theo đúng các quy định trên thì từ năm 2017 trở đi, thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp đòi lại tiền cho vay nói riêng và tài sản cho vay nói chung chỉ còn 3 năm (khác với 2 năm hoặc vô thời hạn trong 20 năm qua và quay về giống với giai đoạn từ 01/7/1991 đến 30/6/1996 theo Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991). Có một điểm khác với trước đây, là thời hạn này thay vì tính từ khi xảy ra tranh chấp như trước, thì sẽ được tính “từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.
Ngoài ra, kể cả trong trường hợp thời hiệu khởi kiện đòi nợ là vô thời hạn thì cũng còn rất mập mờ trong việc xác định có hay không được quyền đòi tiền lãi và xử lý tài sản bảo đảm. Nếu xác định đó là tranh chấp hợp đồng nói chung, thì việc hết thời hiệu khởi kiện sẽ đồng nghĩa với việc bên cho vay sẽ mất quyền đòi nợ lãi và xử lý tài sản bảo đảm, nhất là tài sản thế chấp của người thứ ba.
Tóm lại, thời hiệu khởi kiện nói chung, khởi kiện đòi lại tài sản cho vay nói riêng, đã bị thay đổi quá nhiều, không dựa trên bất kỳ cơ sỏ khoa học cũng như thực tiễn nào, đồng thời luôn là nỗi ám ảnh nhức nhối và gây ra rất nhiều khó khăn và rủi ro pháp lý trong việc giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên, có thể kết luận về thời hiệu khởi kiện về tranh chấp hợp đồng, trong đó có hợp đồng cho vay và hợp đồng bảo đảm như sau:
Thứ nhất, thời hiệu khởi kiện để xử lý tài sản bảo đảm hay giải quyết tranh chấp về hợp đồng bảo đảm phụ thuộc vào thời hiệu khởi kiện hợp đồng chính;
Thứ hai, từ năm 2006 cho đến hết năm 2016, thời hiệu khởi kiện 2 năm là tương đối ngắn, không bảo đảm quyền của ngưồi có quyền lợi bị xâm phạm, nhất là giai đoạn từ 31/12/2011 trở về trước chỉ được tính “từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm”. Từ ngày 01/01/2012 trở đi, thời hiệu khởi kiện được tính kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Thứ ba, trước đây, thời hiệu khởi kiện vụ án tranh chấp đòi nợ theo hợp đồng tín dụng nói riêng, hợp đồng vay tài sản nói chung là vô thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì từ năm 2017 trở đi chỉ còn 3 năm nếu theo đúng quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 (trừ trường hợp sau này có hướng dẫn hoặc giải thích khác);
Thứ tư, nếu như trước đây, một vụ tranh chấp hợp đồng hết thời hiệu khởi kiện thì sẽ bị toà án không thụ lý hoặc trả lại hồ sơ yêu cầu giải quyết tranh chấp, thì theo quy định mới nêu trên, Toà án vẫn phải thụ lý vụ án và chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của ít nhất một bên.