1. Thế nào là thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp kinh doanh thương mại?
Theo khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện được định nghĩa như sau: Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
Dựa vào quy định tại Điều 3 Luật Thương mại 2005, hoạt động thương mại được định nghĩa là các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi.
Dựa vào khái niệm trên, tranh chấp thương mại có thể được hiểu là mâu thuẫn hoặc bất đồng giữa hai bên hợp tác với nhau về quyền và nghĩa vụ trong quá trình kinh doanh thương mại.
Theo đó, đối với các vụ án kinh doanh thương mại, thời hiệu khởi kiện sẽ là thời hạn mà pháp luật cho phép chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án kinh doanh thương mại bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Nếu thời hạn đó kết thúc, quyền khởi kiện sẽ bị mất, trừ khi có quy định khác trong pháp luật.
2. Thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp kinh doanh thương mại
Theo Hướng dẫn 29/HD-VKSTC ngày 25/9/2020 về một số nội dung trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại, có quy định về thời hiệu khởi kiện như sau:
Đối với các tranh chấp kinh doanh thương mại mà văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thời hiệu khởi kiện (theo yêu cầu của đương sự), thì áp dụng thời hiệu khởi kiện được xác định trong văn bản quy phạm pháp luật đó.
Cần lưu ý một số trường hợp áp dụng thời hiệu có tính đặc thù sau:
- Đối với tranh chấp về hợp đồng kinh doanh bảo hiểm, thời hiệu khởi kiện được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, cụ thể: "Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng bảo hiểm là ba năm, kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp".
- Đối với yêu cầu hủy bỏ nghị quyết hoặc một phần nội dung nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông công ty cổ phần, Kiểm sát viên cần lưu ý thời hiệu khởi kiện thực hiện theo Điều 147 Luật Doanh nghiệp năm 2014, cụ thể: "Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được biên bản họp Đại hội đồng cổ đông hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến Đại hội đồng cổ đông, cổ đông, nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 114 của Luật này có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ nghị quyết hoặc một phần nội dung nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông..."
- Đối với yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết của Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, áp dụng điểm d, khoản 8 Điều 50 Luật Doanh nghiệp năm 2014, cụ thể: "Yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết của Hội đồng thành viên trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày kết thúc họp Hội đồng thành viên, nếu trình tự, thủ tục, điều kiện cuộc họp hoặc nội dung nghị quyết đó không thực hiện đúng hoặc không phù hợp với quy định của Luật này và Điều lệ công ty".
- Đối với quy định việc gia hạn thời hiệu trong trường hợp khi hết hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự, các bên có thoả thuận kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ đó, thì việc xác định ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm căn cứ vào ngày chấm dứt thoả thuận của các bên và được thực hiện như hướng dẫn tại điểm a và điểm b khoản 5 Điều 23 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012, cụ thể:
Thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện được tính kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm và được xác định như sau:
+ Đối với nghĩa vụ dân sự mà các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định thời hạn thực hiện, nếu hết thời hạn đó mà bên có nghĩa vụ không thực hiện, thì ngày hết hạn thực hiện nghĩa vụ là ngày xảy ra xâm phạm.
+ Đối với nghĩa vụ dân sự mà các bên không thoả thuận hoặc pháp luật không quy định thời hạn thực hiện, nhưng theo quy định của pháp luật các bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho nhau biết trước trong một thời gian hợp lý, nếu hết thời hạn đã được thông báo đó bên có nghĩa vụ không thực hiện, thì ngày hết thời hạn đã được thông báo là ngày xảy ra xâm phạm.
3. Một số thời hiệu khởi kiện cụ thể đối với tranh chấp kinh doanh thương mại
Dưới đây là một số thời hiệu khởi kiện cụ thể đối với tranh chấp kinh doanh thương mại:
- Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với tranh chấp thương mại là 02 năm, tính từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm (theo Điều 319 của Luật Thương mại năm 2005).
- Thời hiệu khởi kiện về hư hỏng hoặc mất mát hàng hóa là 01 năm, tính từ ngày trả hàng hoặc ngày phải trả hàng cho người nhận hàng (theo Điều 169 của Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015).
- Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng vận chuyển theo chuyến là 02 năm, tính từ ngày người khởi kiện biết hoặc phải biết quyền lợi của mình bị xâm phạm (theo Điều 195 của Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015).
- Thời hiệu khởi kiện đối với vụ việc liên quan đến hợp đồng thuê tàu là 02 năm, tính từ ngày chấm dứt hợp đồng (theo Điều 219 của Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015).
- Thời hiệu khởi kiện về việc thực hiện hợp đồng đại lý tàu biển là 02 năm, tính từ ngày phát sinh tranh chấp (theo Điều 241 của Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015).
4. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện
Trong Bộ luật Dân sự năm 2015, có quy định một số trường hợp khiến khoảng thời gian xảy ra một số sự kiện cụ thể không tính vào thời hiệu khởi kiện. Những sự kiện này bao gồm:
(1) Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan: Đây là những sự kiện không thể dự đoán và không thể khắc phục được, dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Những yếu tố khách quan này làm cho người có quyền khởi kiện không thể tiến hành khởi kiện hoặc yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.
(2) Thiếu người đại diện: Trong trường hợp người có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức hoặc làm chủ hành vi, hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, nhưng lại chưa có người đại diện thay thế.
- Người đại diện chết (nếu là cá nhân) hoặc chấm dứt tồn tại (nếu là pháp nhân).
- Người đại diện không thể tiếp tục đại diện vì lý do chính đáng.
Trong tranh chấp kinh doanh thương mại, thường xảy ra các sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện không thể khởi kiện trong thời hiệu quy định. Điều này tạo ra những yếu tố khách quan nằm ngoài khả năng kiểm soát của chủ thể có quyền khởi kiện, dẫn đến khó khăn và có thể khiến chủ thể này không thể tiến hành khởi kiện trong thời gian quy định. Do đó, để bảo vệ quyền lợi của chủ thể có quyền khởi kiện, khoảng thời gian mà các sự kiện này diễn ra sẽ không được tính vào thời hiệu khởi kiện.
Để tìm hiểu thêm những thông tin liên quan đến vấn đề này, mời quý bạn đọc tham khảo bài viết sau đây: Các loại thời hiệu khởi kiện dân sự theo quy định mới
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết liên quan đến chủ đề "Thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp kinh doanh thương mại" từ Luật Minh Khuê. Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc cần sự hỗ trợ về các vấn đề pháp lý khác, xin vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được sự hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Chân thành cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm và theo dõi bài viết từ Luật Minh Khuê.