Luật sư tư vấn:
1. Khái niệm về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Bộ luật dân sự hiện hành đã quy định bảy biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, kí cược, kí quỹ, bảo lãnh và tín chấp, cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu. Khi các bên lựa chọn một trong các biện pháp này để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì giữa họ phát sinh một quan hệ pháp luật. Việc xác lập biện pháp bảo đảm giữa các chủ thể với nhau được thực hiện thông qua một giao dịch dân sự, vì thể giao dịch dân sự này được gọi là giao dịch bảo đảm và quan hệ hình thành từ giao dịch bảo đảm được gọi là quan hệ bảo đảm.
Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể hiểu theo hai phương diện: Về mặt khách quan là sự quy định của pháp luật, cho phép các chủ thể trong giao dịch dân sự hoặc các quan hệ dân sự khác áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để bảo đảm cho một nghĩa vụ chính được thực hiện đồng thời xác định và đảm bảo quyền, nghĩa vụ của các bên trong các biện pháp đó. Về mặt chủ quan là việc thởa thuận giữa các bên nhằm qua đó đặt ra các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra.
2. Khái niệm về cầm cố
Trong quan hệ nghĩa vụ, để bảo đảm quyền và các lợi ích của người có quyền không bị xâm phạm thì các bên có thể thoả thuận xác lập một biện pháp bảo đảm đối vật, theo đó bên có nghĩa vụ phải giao cho người có quyền một tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền đã có sẵn một tài sản mà người có nghĩa vụ đã giao cho mình để khấu trừ phần nghĩa vụ chưa được thực hiện. Vì vậy, về phương diện ngữ nghĩa thì cầm cố tài sản là việc một người cầm trước (giữ sẵn) một tài sản của người khác để bảo đảm cho quyền, lợi ích của mình.
Việc cầm cố tài sản thường được đặt ra bên cạnh một hợp đồng dân sự nhưng cũng có thể được đặt ra bên cạnh một nghĩa vụ ngoài hợp đồng. Bất luận ở trường hợp nào, cầm cố tài sản đều là kết quả của sự thoả thuận từ hai phía và với mục đích bên có nghĩa vụ hoặc người thứ ba phải bằng tài sản của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ đó trước bên có quyền.
3. Hình thức của cầm cố tài sản
Bộ luật dân sự năm 2015 không xác định rõ về hình thức của cầm cố tài sản, tuy nhiên theo quy định tại Điều 310 Bộ luật dân sự năm 2015 có thể hiểu nếu cầm cố tài sản là động sản thì có thể bằng hình thức miệng hoặc hình thức văn bản, nếu cầm cố bất động sản thì bắt buộc phải bằng văn bản.
Theo quy định tại điều luật trên thì văn bản cầm cố không nhất thiết phải công chứng hoặc chứng thực hoặc đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Thông thường, nếu tài sản cầm cố không phải đăng ký quyền sở hữu thì các bên không cần phải công chứng hoặc chứng thực. Tuy nhiên, để nâng cao độ an toàn pháp lý, các bên có thể thoả thuận cầm cố phải có công chứng hoặc chứng thực.
Căn cứ tại Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, cầm cố tài sản được hiểu là việc bên có tài sản (bên cầm cố) giao tài sản của mình cho bên kia (bên nhận cầm cố) và tài sản này phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên cầm cố, để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ.
4. Khái niệm sổ tiết kiệm
Sổ tiết kiệm có thể hiểu đơn giản là sổ giữ tiền của bạn ở ngân hàng, có ghi rõ thông tin số tiền gửi ban đầu, mức lãi suất được hưởng và thời hạn gửi tiền.
Thay vì để tiền trong nhà với nhiều rủi ro như mất cắp, hỏa hoạn hay đồng tiền mất giá thì gửi tiền tiết kiệm ngân hàng sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn.
- Các hình thức gửi tiết kiệm
+ Gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Là hình thức gửi tiết kiệm mà người đi gửi có thể rút theo yêu cầu vào bất kỳ lúc nào và không cần báo trước với tổ chức nhận tiền gửi. Đây là hình thức có mức lãi suất tiết kiệm thấp nhất trong các hình thức tiết kiệm tại ngân hàng hiện nay.
+ Gửi tiết kiệm có kỳ hạn
Là hình thức gửi tiết kiệm có xác định kỳ hạn gửi và chỉ được tất toán khi đến ngày đáo hạn nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Nếu khách hàng chọn gửi tiết kiệm càng dài hạn thì nhận về mức lãi suất tiết kiệm càng cao.
+ Gửi tiết kiệm linh hoạt
Là hình thức gửi tiết kiệm có kỳ hạn nhưng có thể rút một phần tiền gốc bất kỳ lúc nào, theo mức lãi suất của gửi tiết kiệm không kỳ hạn trong thời gian gửi tiết kiệm. Số dư gốc còn lại vẫn được tính lãi suất áp dụng như quy định của kỳ hạn ban đầu đã thỏa thuận giữa người gửi tiết kiệm và tổ chức nhận tiền gửi.
Cầm cố sổ tiết kiệm là sản phẩm dịch vụ đi kèm mà ngân hàng triển khai cho khách hàng gửi tiền tiết kiệm khi có nhu cầu vay tiền gấp.
5. Cầm cố thẻ tiết kiệm
Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chỉ quy định một số tổ chức tín dụng là ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính vi mô được huy động tiền gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, quy định của Ngân hàng Nhà nước vẫn cho phép ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và quỹ tín dụng nhân dân cũng được huy động tiền gửi tiết kiệm.
Chỉ có cá nhân mối được gửi tiết kiệm và nhận thẻ tiết kiệm (hay còn gọi là sổ tiết kiệm) xác nhận giao dịch tiền gửi. Trên thực tế đã xuất hiện một số hình thức gửi tiết kiệm mà không nhất thiết phải có thẻ tiết kiệm.
Pháp luật hiện hành không coi thẻ tiết kiệm là giấy tờ có giá, tuy nhiên vẫn quy định việc cầm cố thẻ tiết kiệm. Việc cầm cố thẻ tiết kiệm là cách diễn đạt rút gọn, vì thực chất thẻ tiết kiệm không phải là giây tờ có giá. Cách diễn đạt khác là cầm cố số tiền gửi trong thẻ tiết kiệm. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật thì “bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó” , tức là số tiền đã gửi vào ngân hàng là tài sản thuộc sở hữu của ngân hàng, chứ không còn là sở hữu của người gửi tiền. Vì vậy, gọi theo đúng bản chất pháp lý, thì phải là biện pháp thế chấp quyền tài sản, mà cụ thể là quyền đòi nợ đối vối số tiền gửi tại ngân hàng, trong đó giấy tờ xác nhận quyền sở hữu tiền gửi là thẻ tiết kiệm, tương tự như chứng chỉ tiền gửi, giấy chứng nhận tiền gửi hay hợp đồng tiền gửi. Nếu thay đổi theo hưống mở rộng khái niệm này, không chỉ giải quyết vướng mắc trong việc cầm cố thẻ tiết kiệm, mà còn phù hợp với việc nhận bảo đảm tiền gửi nói chung tại tổ chức tín dụng, gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm (có hoặc không có thẻ tiết kiệm), tiền gửi ký quỹ, tiền gửi thanh toán và các hình thức tiền gửi khác.
Nhìn chung, việc cầm cố thẻ tiết kiệm là một biện pháp bảo đảm rất an toàn trên thực tế. Tuy nhiên, vấn đề dễ xảy ra rủi ro, tranh chấp nếu như ngưòi cầm cố thẻ tiết kiệm không phải là chủ sở hữu số tiền gửi. Quy định “chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là người đứng tên trên thẻ tiết kiệm” tại Quyết định số 47/2006/QĐ-NHNN chưa đủ cơ sở pháp lý để khẳng định chắc chắn về chủ sở hữu.
Chỉ riêng tiền gửi tiết kiệm là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng thì cho dù số tiền gửi có thể không phải là thuộc quyền sở hữu của người gửi tiền nhưng người gửi vẫn có quyền cầm cố, thế chấp theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó”.
Pháp luật chưa xác định rõ tư cách và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng phát hành thẻ tiết kiệm ngoài quy định “bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm phong tởa tài khoản tiền gửi tiết kiệm của bên cầm cố’’. Điều này khác với việc quy định rõ về nghĩa vụ của người phát hành giấy tờ có giá “bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu người phát hành giấy tờ có giá hoặc Trung tâm lưu ký chứng khoán bảo đảm quyền giám sát của bên nhận cầm cố đối với giấy tờ có giá đó. Trong trường hợp người phát hành giấy tờ có giá hoặc Trung tâm lưu ký chứng khoán vi phạm cam kết bảo đảm quyền giám sát của bên nhận cầm cố mà gây thiệt hại cho bên nhận cầm cố thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên nhận cầm cố, trừ trường hợp có thởa thuận khác”.
Bên nhận cầm cố thẻ kiết kiệm không “trực tiếp giữ tài sản”, cũng không “uỷ quyền cho người thứ ba giữ tài sản” theo quy định chung. Tổ chức tín dụng phát hành thẻ tiết kiệm cũng không phải là người thứ ba giữ tài sản cầm cố (càng không phải là giữ tài sản thế chấp). Do đó, tổ chức tín dụng phát hành thẻ tiết kiệm cũng không có các nghĩa vụ theo “hợp đồng gửi giữ tài sản” như quy định “Trong trường hợp tài sản cầm cố là vật do người thứ ba giữ mà có nguy cơ bị mất, hư hởng, mất giá trị hoặc giảm sút giá trị thì quyền và nghĩa vụ giữa người thứ ba và bên nhận cầm cố được thực hiện theo hợp đồng gửi giữ tài sản”.
Thủ tục cầm cố thẻ tiết kiệm vẫn được thực hiện lâu nay trên thực tế là, bên phát hành thẻ tiết kiệm xác nhận đồng ý phong tởa tài khoản tiền gửi và xác nhận hỗ trợ bên nhận cầm cố xử lý để thu hồi nợ. Tuy nhiên, việc này dường như mới chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ, chứ chưa rõ nghĩa vụ là của bên phát hành thẻ tiết kiệm. Nếu có nghĩa vụ thanh toán khác, đặc biệt nếu như chính là nghĩa vụ với ngân hàng phát hành thẻ tiết kiệm, thì ngân hàng phát hành có thể ưu tiên khấu trừ số tiền gửi trước. Bên nhận cầm cố khó có cơ sở pháp lý để đòi hởi quyền lợi.
Như vậy, việc nhận cầm cố thẻ tiết kiệm không do bên nhận cầm cố phát hành và giữ tài sản, nhưng lại không bắt buộc phải thực hiện thủ tục công chứng như quy định đôì vối tài sản thế chấp hay xác nhận, đăng ký như quy định đốì vối giấy tờ có giá hoặc tài sản khác. Vì vậy, khi xảy ra rủi ro, tranh chấp thì rất khó xử lý, vì chưa có cơ sỗ pháp lý rõ ràng.
Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định trong trường hợp nhận cầm cố thẻ tiết kiệm thì bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm phong toả tài khoản tiền gửi tiết kiệm của bên cầm cố.