nếu doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp đó có “sức mạnh thị trường đáng kể”. Đối với các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế, mặc dù pháp luật cạnh tranh Việt Nam không sử dụng thuật ngữ “sức mạnh thị trường đáng kể” tuy nhiên, về bản chất các thoả thuận hay giao dịch này được cho là chỉ có thể gây tác hại đáng kể đến cạnh tranh trên thị trường nếu các doanh nghiệp tham gia thoả thuận, giao dịch đó có sức mạnh đủ lớn trên thị trường. Sức mạnh thị trường trong trường họp này được xác định gián tiếp thông qua đánh giá “tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể” - Xem: Điều 13 và Điều 31 Luật cạnh tranh năm 2018.

Để xác định sức mạnh thị trường đáng kể của doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, ủy ban Cạnh ttanh Quốc gia phải căn cứ vào một số yếu tố sau: Tương quan thị phần giữa các doanh nghiệp trên thị trường liên quan; Sức mạnh tài chính, quy mô của doanh nghiệp; Rào cản gia nhập, mở rộng thị trường đổi với doanh nghiệp khác; Khả năng nắm giữ, tiếp cận, kiểm soát thị trường phân phối, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ hoặc nguồn cung hàng hóa, dịch vụ; Lợi thế về công nghệ, hạ tầng kĩ thuật; Quyền sở hữu, nắm giữ, tiếp cận cơ sở hạ tầng; Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; Khả năng chuyển sang nguồn cung hoặc cầu đối với các hàng hóa, dịch vụ liên quan khác; Các yếu tố đặc thù trong ngành, lĩnh vực mà doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh (Xem: Điều 26 Luật cạnh tranh năm 2018).

Tương tự, để xác định “tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể” của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phải căn cứ vào một số yếu tố sau: Mức thị phần của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận; Rào cản gia nhập, mở rộng thị trường; Hạn chế nghiên cứu, phát triển, đổi mới công nghệ hoặc hạn chế năng lực công nghệ; Giảm khả năng tiếp cận, nắm giữ cơ sở hạ tầng thiết yếu; Tăng chi phí, thời gian của khách hàng trong việc mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hoặc khi chuyển sang mua hàng hóa, dịch vụ liên ; quan khác; Gây cản trở cạnh tranh trên thị trường thông qua kiểm soát các yếu tố đặc thù trong ngành, lĩnh vực liên quan đến các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận.

Để xác định “tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể” cúa tập trung kinh tế, ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phải căn cứ vào một số yếu tố sau: Tương quan thị phần giữa các doanh nghiệp trên thị trường liên quan; Sức mạnh tài chính, quy mô của doanh nghiệp; Rào cản gia nhập, mở rộng thị trường đối với doanh nghiệp khác; Khả năng nắm giữ, tiếp cận, kiểm soát thị trường phân phối, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ hoặc nguồn cung hàng hóa, dịch vụ; Lợi thế về công nghệ, hạ tầng kỹ thuật; Quyền sở hữu, nắm giữ, tiếp cận cơ sở hạ tầng; Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; Khả năng chuyển sang nguồn cung hoặc cầu đối với các hàng hóa, dịch vụ liên quan khác; Các yếu tố đặc thù trong ngành, lĩnh vực mà doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh và Xem: Điều 13, điều 31 Luật cạnh tranh.

Như vậy, thị phần chỉ là một yếu tố để xác định sức mạnh thị trường của doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường. Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan; nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và có tổng thị phần từ 50% trở lên (đối với hai doanh nghiệp) hoặc 65% (đối với ba doanh nghiệp) hoặc 75% (đối với bốn doanh nghiệp) trên thị trường liên quan. Pháp luật Việt Nam cũng quy định về việc thông báo bắt buộc đối với các vụ tập trung kinh tế khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế từ 20% trên thị trường liên quan.

Trong thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh cho đến nay, các cơ quan cạnh tranh Việt Nam chủ yếu căn cứ vào yếu tố thị phần và cấu trúc thị trường để suy đoán sức mạnh thị trường của doanh nghiệp. Yếu tố rào cản thị trường cũng được tập trung phân tích mặc dù việc phân tích này là nhằm xác định thị trường địa lí liên quan chứ không phải để đánh giá sức mạnh thị trường. Chẳng hạn, trong vụ Vinapco, dựa trên việc phân tích cẩu trúc thị trường (khi đó Vinapco là doanh nghiệp duy nhất cung ứng nhiên liệu bay cho máy bay dân dụng tại Việt Nam) và rào cản gia nhập thị trường (Cục hàng không Việt Nam xác nhận ngoài Vinapco chưa có doanh nghiệp nào khác được cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ hàng không trong lĩnh vực xăng dầu hàng không), Hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh đã kết luận Vinapco là doanh nghiệp độc quyền trên thị trường dịch vụ cung cấp xăng dầu hàng không dân dụng tại các sân bay dân dụng và sân bay dùng chung dân dụng và quân sự của Việt Nam. Trong vụ xử phạt 19 doanh nghiệp bảo hiểm, căn cứ vào số lượng các doanh nghiệp tham gia kí kết thoả thuận hạn chế cạnh tranh (19 trên tổng số 25 doanh nghiệp của toàn thị trưởng) và thị phần kết hợp của các doanh nghiệp ấy (được xác định là 99,79%), Cục quản lí cạnh tranh cho rằng:

“bằng việc kí kết Bản thoả thuận, 19 doanh nghiệp bảo hiểm bị điều tra đã triệt tiêu cạnh tranh về mức phí bảo hiểm trên phạm vi lớn, gần như toàn bộ thị trường... vì vậy, khả năng gãy hạn chế cạnh tranh của hành vi thoả thuận do các doanh nghiệp bảo hiểm bị điều tra thực hiện là đáng kế”.

Đồng ý với nhận định này, Hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh đã căn cứ vào thị phần kết hợp của 19 doanh nghiệp bị điều tra (trên 30%) để kết luận các doanh nghiệp này vi phạm khoản 2 Điều 9 Luật cạnh tranh về các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm và ra quyết định xử phạt. Đặc biệt, trong vụ việc này, các yếu tổ như sản phẩm nhập khẩu, sức mạnh của người mua đã bắt đầu được các cơ quan cạnh tranh đề cập tới tuy chúng không đóng vai trò quyết định trong việc kết luận hành vi vi phạm của các doanh nghiệp tham gia thoả thuận. Trong vụ việc tập trung kinh tế giữa GrabTaxi và Uber, bên điều tra xác định:

(i) thị phần kết hợp trên thị trường dịch vụ trung gian kết nối vận tải hành khách giữa người đi xe với lái xe ô tô dưới 09 chỗ ngồi trên nền tảng phần mềm và tổng đài tại Hà Nội là 44,10%;

(ii) thị phần kết hợp trên thị trường dịch vụ trung gian kết nối vận tải hành khách giữa người đi xe với lái xe ô tô dưới 09 chỗ trên nền tảng phần mềm và tổng đài tại thành phố Hồ Chí Minh là 82,68%. Từ đó, bên điều tra kết luận các doanh nghiệp này đã vi phạm (i) hành vi không thông báo tập trung kinh tế và (ii) hành vi tập trung kinh tế bị cấm theo Điều 20 và Điều 18 Luật cạnh tranh năm 2004.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật cạnh tranh, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại.

>> Xem thêm:  Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền là gì ?

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật cạnh tranh - Công ty luật Minh Khuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Cách xác định thị trường địa lí liên quan ? Yếu tố thời điểm trong việc xác định thị trường liên quan