1. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử theo Hiến pháp

Năm 2013 Hiến pháp mới của Việt Nam được ban hành, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, nguyên tắc tranh tụng được thừa nhận chính thức trong một văn bản pháp lý của Nhà nước, tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Đây là định hướng chỉ đạo cho việc tiếp tục quy định nguyên tắc tranh tụng trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS).

2. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử theo BLTTHS 2015

Ngày 27/12/2015, BLTTHS đã được Quốc hội thông qua, nguyên tắc tranh tụng được thể hiện tại Điều 26 như sau: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bị buộc tội, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án hình sự do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp. Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải có mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật này, trường hợp vắng mặt phải vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ trước Tòa án.

Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và các tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa.

Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

3. Quy định thể hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử

Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử là những tư tưởng, quan điểm có tính chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nguyên tắc này được thể hiện đậm nét, đặc trưng nhất là tại phiên tòa (sơ thẩm, phúc thẩm) qua các điều luật với các nội dung cụ thể như sau:

Khắc phục tình trạng trong thực tế trong nhiều phiên tòa, bị cáo không nhận tội và cho rằng việc khai nhận tại Cơ quan điều tra là do bị ép, bức cung, bảo đảm thống nhất với quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được bổ sung quy định sự có mặt của Điều tra viên tại phiên tòa với tư cách là người đã điều tra vụ án (Điều 296) để góp phần làm rõ những chứng cứ hoặc những vấn đề có liên quan đến vụ án, bảo đảm các chứng cứ được đưa ra có tính thuyết phục cao hơn. Ngoài ra, Bộ luật còn bổ sung quy định về sự có mặt của người giám định, người định giá tài sản (Điều 294) để trình bày các vấn đề liên quan đến việc định giá; và bổ sung quy định về sự có mặt của người phiên dịch, người dịch thuật (Điều 295).

 4. Sự có mặt của Điều tra viên tại phiên tòa

Theo Điều 296 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Điều 296. Sự có mặt của Điều tra viên và những người khác

Trong quá trình xét xử, khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án và những người khác đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án.

Điều 317, BLTTHS năm 2015 quy định việc triệu tập Điều tra viên để trình bày ý kiến để làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra. Từ ngày 01/01/2018 BLTTHS năm 2015 có hiệu lực thi hành cho đến nay, qua theo dõi nhận thấy có nhiều phiên tòa Hội đồng xét xử triệu tập Điều tra viên đến tham dự phiên tòa để làm rõ các nội dung sau:

- Tại phiên tòa bị cáo tố cáo Điều tra viên bức cung, nhục hình hoặc chỉnh sửa trong hồ sơ vụ án, như: Ngày 10/8/2018 Tòa án nhân dân huyện Mê Linh tiếp tục mở phiên tòa xét xử các bị cáo Bùi Văn Thành (SN 1993) và Bùi Đại Chức, Bùi Văn Tuấn, Bùi Tiến Dũng đều SN 1997 và cùng trú tại xã Tam Đồng, huyện Mê Linh, TP. Hà Nội về tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác”.

Đối với lời khai của các bị cáo cho rằng bị ép cung, nhục hình tại Cơ quan Điều tra, Hội đồng xét xử đã triệu tập Điều tra viên Hoàng Văn Tùng, Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Mê Linh đến phiên tòa để làm rõ nội dung lời khai của Bị cáo.

- Liên quan đến nội dung tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, kết quả điều tra vụ án, như: Trong xét xử vụ án “Cố ý làm trái quy định Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và Tham ô tài sản” xảy ra tại Tập đoàn dầu khí Việt Nam và Tổng công ty xây lắp dầu khí Việt Nam: Cho rằng cơ quan điều tra kết luận Trịnh Xuân Thanh không thành khẩn khai báo, gây bất lợi cho thân chủ của mình nên luật sư đã chất vấn điều tra viên tại tòa.

5. Trường hợp nào thì triệu tập Điều tra viên đến tham dự phiên tòa

BLTTHS năm 2015 không quy định cụ thể trong trường hợp nào thì triệu tập Điều tra viên đến tham dự phiên tòa. Tuy nhiên, qua thực tiễn hoạt động Điều tra vụ án hình sự thuộc Cơ quan Điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân cho thấy một số trường hợp sau đây được xem là cần thiết triệu tập Điều tra viên, người tiến hành tố tụng đã thụ lý điều tra vụ án đến phiên toà để làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án.

Thứ nhất: Khi cần làm rõ những vấn đề trong yêu cầu điều tra, yêu cầu điều tra bổ sung của Kiểm sát viên mà Điều tra viên thực hiện không đúng yêu cầu hoặc không thực hiện.

Điều tra viên, Cán bộ điều tra được phân công điều tra vụ án phải thực hiện yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên, tuy nhiên có trường hợp có nội dung yêu cầu điều tra mà Điều tra viên, cán bộ điều tra không nhất trí, thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.

Trường hợp Cơ quan điều tra không thực hiện yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát hoặc đã tiến hành các hoạt động điều tra nhưng do trở ngại khách quan mà không thể thực hiện được yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát thì Cơ quan điều tra phải nêu rõ lý do trong bản kết luận điều tra.

Do đó khi cần làm rõ vấn đề này thì Hội đồng xét xử phải triệu tập Điều tra viên hoặc Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Điều tra đến phiên tòa để làm rõ những lý do không thực hiện được yêu cầu điều tra của Điều tra viên.

Thứ hai: Trong hồ sơ vụ án có những nội dung không thống nhất trong việc đánh giá, tài liệu chứng cứ giữa Điều tra viên và Kiểm sát viên

Theo quy định chậm nhất 10 ngày đối với vụ án ít nghiêm trọng và nghiêm trọng, 15 ngày đối với vụ án rất nghiêm trọng, 20 ngày đối với vụ án đặc biệt nghiêm trọng trước khi kết thúc điều tra hoặc hết thời hạn điều tra vụ án, Điều tra viên và Kiểm sát viên phải phối hợp để đánh giá toàn bộ chứng cứ, tài liệu và các thủ tục tố tụng của vụ án.

Đối với vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp hoặc Điều tra viên và Kiểm sát viên không thống nhất quan điểm đánh giá chứng cứ, tội danh thì Điều tra viên trao đổi với Kiểm sát viên báo cáo Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát để Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát tổ chức họp đánh giá kết quả điều tra vụ án, chỉ đạo giải quyết những vấn đề chưa thống nhất, khó khăn, vướng mắc, bảo đảm việc kết thúc điều tra, giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật.

Như vậy khi vụ án có những nội dung không thống nhất quan điểm đánh giá chứng cứ, tài liệu, chứng cứ, thủ tục tố tụng giữa Điều tra viên và Kiểm sát viên. Khi cần làm rõ vấn đề này thì Hội đồng xét xử tiến hành triệu tập Điều tra viên tham dự phiên tòa để làm rõ.

Thứ ba: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, có căn cứ xác định Điều tra viên, Cơ quan điều tra không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ, tài liệu liên quan theo quy định của pháp luật trong quá trình điều tra vụ án làm cho Kiểm sát viên không nắm được nội dung vụ án để kịp thời đề ra yêu cầu điều tra. Như, không chuyển các biên bản hoạt động tố tụng theo quy định tại khoản 5, Điều 88, BLTTHS năm 2015 cho Kiểm sát viên.

Do đó theo đề nghị của người tiến hành tố tụng đề nghị triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa để làm rõ vấn đề.

Thứ tư: Trong quá trình chuẩn bị xét xử hoặc xét xử, những người tham gia tố tụng có ý kiến về Cơ quan điều tra không đảm bảo quyền lợi của họ khi tham gia tố tụng, như: Không được thông báo kết quả điều tra vụ án như; không được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ, không được đưa ra chứng cứ, đồ vật, yêu cầu của bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự… những người này đề nghị Hội đồng xét xử triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa để làm rõ.

Thứ năm: Trong quá trình chuẩn bị xét xử hoặc xét xử, cần làm rõ những đề nghị, yêu cầu của những người tham gia tố tụng nhưng Cơ quan Điều tra không giải quyết và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ như: Đề nghị giám định, định giá tài sản của bị can, bị cáo, bị hại; yêu cầu kiểm tra, tài liệu chứng cứ của bị cáo, bị hại; yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của bị hại; Đề nghị tiến hành các hoạt động tố tụng, thu thập tài liệu chứng cứ của người bào chữa…

Hội đồng xét xử hoặc những người tham gia tố tụng khác đề nghị Hội đồng xét xử triệu tập Điều tra viên đến để làm rõ.

Thứ sáu: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, sau khi nghiên cứu hồ sơ nếu thấy có một trong các căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhưng Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa đã có biện pháp khắc phục hoặc có thể bổ sung được tại phiên tòa mà không phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, như: Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, nhưng không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.

Vì vậy cần phải triệu tập Điều tra viên đến phiên tòa để làm rõ, tránh trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung làm cho quá trình giải quyết vụ án kéo dài.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)