Việc định giá tài sản có ý nghĩa lớn đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, góp phần giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng định tội, định khung hình phạt một cách chính xác.
Yêu cầu về định giá tài sản được quy định cụ thể tại điều 215, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau:
“(1) Khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra văn bản yêu cầu định giá tài sản… (3) Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra văn bản yêu cầu định giá tài sản, cơ quan yêu cầu định giá phải giao hoặc gửi văn bản yêu cầu định giá tài sản, hồ sơ, đối tượng yêu cầu định giá tài sản cho Hội đồng định giá tài sản được yêu cầu; gửi văn bản yêu cầu định giá tài sản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra. (4) Việc yêu cầu định giá tài sản để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”.
Định giá tài sản là biện pháp điều tra mới được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, thời hạn định giá tài sản giúp đảm bảo vụ án được giải quyết kịp thời, nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu về thời hạn điều tra, thời hạn giải quyết vụ án nói chung.
Khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tổ tụng ra văn bản yêu cầu định giá tài sản.
Văn bản yêu cầu định giá tài sản có các nội dung sau đây:
a) Tên cơ quan yêu cầu định giá; họ tên người có thẩm quyền yêu cầu định giá;
b) Tên Hội đồng định giá tài sản được yêu cầu;
c) Thông tin và đặc điểm của tài sản cần định giá;
d) Tên tài liệu cố liên quan (nếu có);
đ) Nội dung yêu cầu định giá tài sản;
e) Ngày, tháng, năm yêu cầu định giá tài sản, thời hạn trả kết luận định giá tài sản.
Về thủ tục, điều luật trên quy định cụ thể và chặt chẽ, đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời của hoạt động này. Theo đó, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra văn bản yêu cầu định giá tài sản, cơ quan yêu cầu định giá phải giao hoặc gửi văn bản yêu cầu định giá tài sản, hồ sơ, đối tượng yêu cầu định giá tài sản cho Hội đồng định giá tài sản được yêu cầu; gửi văn bản yêu cầu định giá tài sản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
Giá trị tài sản vừa có ý nghĩa đối với việc định tội, định khung hình phạt, xác định thiệt hại do tội phạm gây ra, vừa có ý nghĩa đối với việc giải quyết các vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Việc yêu cầu định giá tài sản để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Quy định về thời hạn định giá tài sản

- Thời hạn về định giá tài sản được quy định cụ thể tại điều 216, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như sau:
“Việc định giá tài sản, trả kết luận định giá tài sản thực hiện theo thời hạn nêu trong văn bản yêu cầu định giá tài sản. Trường hợp việc định giá tài sản không thể tiến hành trong thời hạn yêu cầu, Hội đồng định giá tài sản phải kịp thời thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho cơ quan, người đã yêu cầu định giá biết”.
Thời hạn định giá tài sản là khoảng thời gian luật định mà việc định giá tài sản được tiến hành. Thời hạn định giá tài sản được tính từ thời điểm yêu cầu định giá tài sản cho đến khi trả kết luận định giá tài sản.
Việc định giá tài sản, trả kết luận định giá tài sản thực hiện theo thời hạn nêu trong văn bản yêu cầu định giá tài sản. Nhà làm luật quy định mở về thời hạn định giá tài sản cho cơ quan yêu cầu định giá tài sản.
Thời hạn định giá tài sản phải là khoảng thời gian hợp lí để Hội đồng định giá có thể tiến hành việc định giá được chính xác, khách quan. Trong trường hợp việc định giá tài sản không thể tiến hành trong thời hạn yêu cầu, Hội đồng định giá tài sản phải kịp thời thông báo bằng văn bản cho cơ quan, người đã yêu cầu định giá biết và phải nêu rõ lí do về việc không thể định giá trong thời hạn được yêu cầu.

Người định giá tài sản có quyền:

- Tìm hiểu tài liệu của vụ án liên quan đến đối tượng phải định giá;

- Yêu cầu cơ quan yêu cầu định giá, người tham gia tố tụng yêu cầu định giá cung cấp tài liệu cần thiết cho việc định giá;

- Từ chối thực hiện định giá trong trường hợp thời gian không đủ để tiến hành định giá, các tài liệu cung cấp không đủ hoặc không có giá trị để định giá, nội dung yêu cầu định giá vượt quá phạm vi hiểu biết chuyên môn của mình;

- Ghi ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận chung nếu không thống nhất với kết luận của hội đồng định giá tài sản;

- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Người định giá tài sản có nghĩa vụ:

- Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

- Giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện định giá tài sản;

- Các nghĩa vụ khác theo quy định của luật.

Người định giá tài sản kết luận gian dối hoặc từ chối tham gia định giả mà không vì lí do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS.

Người định giá tài sản phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

- Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;

- Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó;

- Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó.

Việc thay đổi người định giá tài sản do cơ quan yêu cầu định giá tài sản quyết định.

Người tham gia tố tụng khác là gì? Quyền, nghĩa vụ của họ trong vụ án hình sự?

Người tố giác tội phạm là người phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tổ (Điều 56 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)

Người báo tin về tội phạm là người đã cung cấp thông tin về vụ viêc có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Người kiến nghị khởi tố là người có thẩm quyền theo quy định Của pháp luật đề nghị bằng văn bản kèm chứng cứ, tài liệu có liên quan cho cơ quan điều tra, viện kiểm sát xem xét, xử lí vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

Cá nhân đã tố giác, bảo tin về tội phạm; cơ quan, tổ chức đã bảo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố có quyền:

- Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giữ bí mật việc tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ, người thân thích của họ khi bị đe doạ;

- Được thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm; cơ quan, tổ chức đã báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tổ có nghĩa vụ: có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm, trình bày trung thực về những tình tiết mà mình biết về sự việc.

Để hướng dẫn thi hành BLTTHS năm 2015 về định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Chính phủ ban hành Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018; sau đó Chính phủ ban hành Nghị định số 97/2019/NĐ-CP ngày 23/12/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 7/3/2018 quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản trong TTHS theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự.

Để hướng dẫn thi hành Nghị định của Chính phủ về định giá tài sản, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 43/2018/TT-BTC ngày 07/5/2018; sau đó ban hành Thông tư 30/2020/TT-BTC ngày 17/4/2020 để hướng dẫn Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018; Nghị định số 97/2019/NĐ-CP ngày 23/12/2019, thay thế Thông tư 43/2018/TT-BTC ngày 07/5/2018. Quy định về phân loại tài sản cần định giá, cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến yêu cầu định giá tài sản; tiếp nhận và triển khai yêu cầu định giá tài sản; thành lập Hội đồng định giá tài sản; quyền và nghĩa vụ của Hội đồng định giá tài sản, Tổ giúp việc Hội đồng định giá tài sản; căn cứ định giá tài sản; lập kế hoạch định giá tài sản; khảo sát giá, thu thập thông tin liên quan đến tài sản cần định giá; yêu cầu khi áp dụng phương pháp định giá tài sản; chi phí định giá, định giá lại tài sản trong tố tụng hình sự.

Một số vướng mắc, bất cập

- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, bị can đề nghị Tòa án định giá lại tài sản vì cho rằng giá trị định giá quá cao so với giá trị thực tế của tài sản. Tòa án giải quyết như thế nào?

Ví dụ: Nguyễn Văn H bị VKSND huyện A truy tố về tội trộm cắp tài sản. Tài sản bị chiếm đoạt là một chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA INNOVA đã qua sử dụng. Chiếc xe ô tô đã được Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện A thực hiện định giá lần đầu theo yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A và có kết luận giá trị chiếc ô tô tại thời điểm bị chiếm đoạt (năm 2020) là 300.000.000đ. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, bị can H có đơn đề nghị định giá lại tài sản vì cho rằng kết quả định giá này là quá cao so với giá trị thực tế của chiếc xe (xe ô tô mua năm 2006, xe vận tải hành khách thường xuyên nên xuống cấp nghiêm trọng). TAND huyện A đã ra văn bản yêu cầu định giá tài sản gửi Hội đồng định giá tài sản trong TTHS cấp tỉnh định giá lại tài sản. Hội đồng định giá tài sản cấp tỉnh tiến hành việc định giá lại và có kết luận chiếc xe ô tô nói trên có giá trị là 180.000.000đ.

Vấn đề đặt ra là việc ra văn bản yêu cầu định giá lại tài sản nêu trên của Tòa án nhân dân huyện A có phù hợp hay không?

Quan điểm thứ nhất: Theo quy định tại khoản 5 Điều 252 BLTTHS, Tòa án có quyền yêu cầu định giá lại tài sản. Nên nếu xét thấy nghi ngờ về kết luận định giá tài sản lần đầu thì Tòa án có quyền ra văn bản yêu cầu định giá lại tài sản.

Quan điểm thứ hai: Tòa án không ra văn bản yêu cầu định giá lại tài sản mà trả hồ sơ điều tra bổ sung, yêu cầu Viện kiểm sát tiến hành định giá lại tài sản. Nếu Viện kiểm sát tiến hành định giá lại tài sản thì Tòa án căn cứ vào kết luận định giá lại tài sản để giải quyết vụ án. Nếu Viện kiểm sát không tiến hành định giá lại tài sản mà chuyển hồ sơ lại cho Tòa án, nếu xét thấy nghi ngờ về kết luận định giá tài sản lần đầu thì căn cứ khoản 5 Điều 252 BLTTHS, Tòa án ra văn bản yêu cầu định giá lại tài sản để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Theo quan điểm của chúng tôi, để giải quyết chính xác, đảm bảo chặt chẽ và khách quan vụ án, Tòa án không ra văn bản yêu cầu định giá lại tài sản mà tiến hành trả hồ sơ điều tra bổ sung, yêu cầu Viện kiểm sát tiến hành định giá lại tài sản, như hướng giải quyết theo quan điểm thứ hai là phù hợp. Trường hợp Viện kiểm sát không tiến hành định giá lại tài sản mà chuyển hồ sơ lại cho Tòa án, nếu xét thấy nghi ngờ về kết luận định giá tài sản lần đầu thì căn cứ khoản 5 Điều 252 BLTTHS, khoản 1 Điều 21 Nghị định 30/2018/NĐ-CP, Tòa án ra văn bản yêu cầu định giá lại tài sản.

Vấn đề thứ hai là Tòa án có được sử dụng kết quả định giá lại tài sản để giải quyết vụ án không?

Từ ví dụ nêu trên, có quan điểm cho rằng việc định giá lại tài sản mặc dù có sự khác nhau với kết quả định giá lần đầu nhưng đảm bảo đúng thủ tục quy định do Hội đồng định giá tài sản trong TTHS cấp tỉnh thực hiện. Nên kết quả định giá lại tài sản được sử dụng để giải quyết vụ án.

Theo chúng tôi, khi có kết luận định giá lại tài sản, nếu có mâu thuẫn với kết luận định giá lần đầu thì Tòa án kiểm tra tính xác thực của kết quả định giá lại. Nếu kết luận định giá lại tài sản đảm bảo thủ tục theo quy định, không có nghi ngờ về kết quả định giá lại thì sử dụng để giải quyết vụ án. Nếu có căn cứ nghi ngờ về kết quả định giá lại thì căn cứ khoản 2 Điều 218 BLTTHS, khoản 2 Điều 21 Nghị định 30/2018/NĐ-CP, Tòa án ra văn bản yêu cầu định giá lại lần hai, kết luận định giá lại tài sản lần hai được sử dụng để giải quyết vụ án.

- Trong vụ án có 2 người bị thiệt hại về tài sản nhưng 1 người từ chối định giá tài sản, không cung cấp thông tin về tài sản cần định giá, không yêu cầu bồi thường thiệt hại, thì giải quyết như thế nào?

Trước hết, đây là hậu quả do hành vi phạm tội gây ra nhưng chưa được cơ quan tiến hành tố tụng xác minh, điều tra cụ thể; trong khi tình tiết này dùng để xác định có hành vi phạm tội không; có thể ảnh hưởng tới việc xác định khung hình phạt; để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội làm cơ sở giải quyết vụ án. Tuy nhiên, khi cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định yêu cầu định giá tài sản đối với tài sản của 2 người bị thiệt hại về tài sản, 1 người từ chối việc định giá tài sản vì cho rằng tài sản của họ không đáng kể, nên không cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến tài sản cần định giá. Tòa án giải quyết vụ án như thế nào?

Quan điểm thứ nhất, Tòa án đề nghị Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát yêu cầu định giá tài sản thông qua loại tài sản tương tự để có căn cứ đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Khi có kết luận định giá tài sản thông qua loại tài sản tương tự thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Quan điểm thứ hai, Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát yêu cầu định giá tài sản, nhưng người bị thiệt hại về tài sản vẫn giữ nguyên quan điểm từ chối việc định giá tài sản thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử và Hội đồng xét xử tiếp tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Theo chúng tôi, quan điểm thứ hai là phù hợp. Sau khi trả hồ sơ để điều tra bổ sung tại phiên tòa, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra đã thuyết phục nhưng người bị thiệt hại về tài sản vẫn giữ nguyên quan điểm từ chối việc định giá tài sản, không cung cấp thông tin về tài sản cần định giá. Do đó, khi nhận lại hồ sơ vụ án không có kết luận định giá tài sản, theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo thì Tòa án vẫn đưa vụ án ra xét xử, xác định tư cách tham gia tố tụng của người này là người làm chứng. Khi không có thông tin về tài sản cần định giá thì việc định giá tài sản thông qua loại tài sản tương tự là không đúng quy định của pháp luật.

- Vấn đề định giá tài sản đối với tài sản không mua bán phổ biến trên thị trường (tài sản là quyền sở hữu trí tuệ, tác phẩm nghệ thuật, di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị văn hóa, tôn giáo, khảo cổ, kiến trúc, lịch sử) như thế nào?

Đối với tài sản bị xâm phạm là tác phẩm nghệ thuật, di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị văn hóa, tôn giáo, khảo cổ, kiến trúc, lịch sử: Giá trị của một tác phẩm nghệ thuật đối với cách nhìn của mỗi người khác nhau, đối với người bình thường, ít quan tâm thì giá trị tài sản là tác phẩm đó không lớn. Còn đối với những người đam mê đối với tác phẩm nghệ thuật thì tài sản đó có giá trị rất lớn, thậm chí là vô giá.

Ví dụ: Một người xâm phạm tài sản người khác là một bình gốm sứ, trên thân bình có in hoa văn và chữ Hán (được cho là tác phẩm nghệ thuật). Qua lời khai của bị hại, đây là tài sản rất quý, là cổ vật xuất xứ từ Trung Quốc có giá trị hơn 1 tỉ đồng, nên bị hại đề nghị cơ quan chức năng định giá đối với chiếc bình gốm sứ và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Hội đồng định giá tài sản cấp huyện định giá tài sản đối với chiếc bình gốm sứ (là tác phẩm nghệ thuật) có trị giá 80 triệu đồng. Bị hại không chấp nhận với kết luận định giá tài sản nêu trên và đề nghị Hội đồng định giá tài sản cấp tỉnh định lại tài sản vì cho rằng giá trị chiếc bình gốm sứ cao hơn nhiều lần so với giá trị 80 triệu đồng đã được định giá.

Đối với tài sản bị xâm hại là “quyền sở hữu trí tuệ”:

Ví dụ: Nguyễn Văn A vì mâu thuẫn với Trần Văn N nên A đập phá và đốt chiếc máy tính của N. Hậu quả làm toàn bộ chiếc máy tính bị hư hỏng (trong máy tính có công trình nghiên cứu khoa học của N). Vậy việc xác định hậu quả thiệt hại đối với loại tài sản này như thế nào?

Tài sản là tác phẩm nghệ thuật, di vật, cổ vật, quyền sở hữu trí tuệ… là những tài sản không có khung giá, thậm chí là tài sản vô giá. Vì vậy việc định giá gặp rất nhiều khó khăn, rất khó để định giá đúng giá trị của những loại tài sản này. Mặc dù Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 của Chính phủ đã có hướng dẫn về vấn đề này nhưng trên thực tế làm thế nào để định giá tài sản bị thiệt hại một cách khách quan, chính xác để vừa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu vừa làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng như áp dụng đúng khung hình phạt và việc bồi thường thiệt hại đối với những người xâm phạm tài sản là công việc rất phức tạp, khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án.

Để việc định giá những tài sản có tính đặc thù này, các cơ quan tiến hành tố tụng cần đề nghị các cơ quan chuyên môn cử người có kinh nghiệm trong các lĩnh vực như cơ quan sở hữu trí tuệ, bảo tàng hoặc khảo cổ tham gia Hội đồng định giá khi định giá định giá đối với các loại tài sản nêu trên.

- Đối với những tài sản khi định giá cần giám định, khi không có kết luận giám định hoặc không giám định được thì việc định giá có tiến hành được không?

Ví dụ: Cơ quan điều tra đang điều tra về hành vi buôn lậu đối với hàng hóa là lô hàng thiết bị y tế đã qua sử dụng, là hàng hóa thuộc danh mục hàng cấm nhập khẩu. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định. Kết quả giám định: “Toàn bộ mẫu cần giám định có tình trạng đã qua sử dụng, không xác định được xuất xứ, năm sản xuất, thời gian sử dụng lần đầu, chất lượng còn lại của các thiết bị cần giám định”.

Với kết luận giám định nêu trên thì việc định giá có tiến hành được không?

Theo chúng tôi, Nghị định số 30/2018/NĐ-CP, số 97/2019/NĐ-CP và Thông tư số 30/2020/TT-BTC của Bộ Tài chính đã quy định đầy đủ, chi tiết từ nguyên tắc định giá tài sản, căn cứ định giá tài sản, phương pháp định giá tài sản… Nên việc định giá tài sản vẫn tiến hành.

Theo đó, trong từng trường hợp cụ thể, căn cứ vào tình hình thực tế về thông tin, đặc điểm tài sản về công năng, thiết kế, cấu tạo, khả năng vận hành và sử dụng của tài sản... cơ quan tiến hành định giá căn cứ quy định tại Điều 17 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP lựa chọn phương pháp định giá, tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành hoặc phương pháp định giá quy định tại pháp luật chuyên ngành liên quan đến tài sản cần định giá (nếu có) để tiến hành định giá theo quy định.

Đối với trường hợp tài sản cụ thể là trang thiết bị y tế là tài sản có tính chất kinh tế - kỹ thuật phức tạp, mang tính chất chuyên ngành cao, cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu khi tiến hành thành lập Hội đồng định giá phải có thành phần là đại diện các cơ quan chuyên môn có kinh nghiệm trong lĩnh vực trang thiết bị y tế. Gắn với đó, cơ quan tố tụng cung cấp các thông tin, tài liệu cần thiết liên quan để đảm bảo xác định được đầy đủ các thông tin về công năng, thiết kế, cấu tạo, khả năng vận hành của tài sản… phục vụ việc định giá tài sản theo quy định.

Một số đề xuất, kiến nghị

- BLTTHS năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung so với BLTTHS năm 2003, quy định hẳn một chương về giám định và định giá tài sản, đã tháo gỡ những vướng mắc cho các cơ quan tiến hành tố tụng về định giá tài sản. Tuy nhiên, theo chúng tôi để quy định chặt chẽ hơn cần bổ sung vào Chương XV của BLTTHS năm 2015 hoặc các văn bản hướng dẫn thi hành một số quy định:

+ Bổ sung quy định về việc người bị thiệt hại về tài sản không đề nghị định giá tài sản thì buộc họ phải cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến tài sản được định giá để làm căn cứ giải quyết vụ án.

+ Bổ sung quy trình định giá tài sản đối với tài sản không mua bán phổ biến trên thị trường; quyền sở hữu trí tuệ; tác phẩm nghệ thuật; di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị văn hóa, tôn giáo, khảo cổ, kiến trúc, lịch sử; quy định việc định giá phải dựa trên kết quả giám định đồng thời phải có thành phần là đại diện các cơ quan chuyên môn, chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực của tài sản được định giá.

- Về quyền của những người tham gia tố tụng đối với Kết luận định giá tài sản theo khoản 3 và khoản 4 của Điều 222 BLTTHS năm 2015. Theo đó, bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến của mình về kết luận định giá tài sản; được đề nghị định giá lại tài sản. Trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không chấp nhận đề nghị của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác thì phải thông báo cho người đề nghị bằng văn bản và nêu rõ lý do. Tuy nhiên, quy định trên chỉ mang tính đánh giá chủ quan của cơ quan tiến hành tố tụng, chưa có cơ sở pháp lý. Hiện luật cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định. Nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền giải quyết đề nghị của đương sự theo cảm tính chủ quan, dễ dẫn đến tùy tiện, không thống nhất.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của người định giá, người bị hại, người làm chứng, bị can, bị cáo, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê