1. Khái quát về biên chế công chức

Biên chế là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các cơ quan Nhà nước, tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có định nghĩa chính thức cho thuật ngữ này. Theo khoản 1 Điều 3 của Nghị định 108/2014/NĐ-CP, biên chế bao gồm biên chế cán bộ, biên chế công chức, số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và lao động hợp đồng được cấp có thẩm quyền giao theo quy định của pháp luật.

Có thể hiểu, biên chế là số lượng cán bộ, công chức, viên chức, và nhân viên lao động được cơ quan có thẩm quyền (hiện nay là Bộ Nội vụ, bộ, cơ quan ngang bộ...) bổ nhiệm hoặc tuyển dụng và được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Do đó, không phân biệt loại hợp đồng cán bộ, công chức, viên chức hay lao động được ký với cơ quan có thẩm quyền, miễn là thuộc số lượng người làm việc trong các cơ quan Nhà nước hoặc đơn vị sự nghiệp công lập được giao, đều được coi là trong biên chế.

Vào biên chế có nghĩa là một cá nhân được bổ nhiệm làm cán bộ, hoặc được tuyển dụng làm công chức, viên chức, hoặc ký hợp đồng làm việc với các cơ quan Nhà nước. Thực tế, nhiều người coi việc vào biên chế là đảm bảo cho công việc ổn định, lương, thưởng cố định, và thậm chí là được bảo đảm từ khi bắt đầu làm việc cho đến khi nghỉ hưu. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hiện nay, ngoài biên chế, còn có chính sách tinh giản biên chế và Luật Viên chức mới đã bỏ quy định liên quan đến "biên chế suốt đời".

2. Quy định hiện hành về biên chế đối với công chức, viên chức

Đầu tiên, theo quy định tại Điều 35 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Hướng dẫn tại Điều 3 của Nghị định số 138/2020/NĐ-CP, việc tuyển dụng công chức phải dựa trên yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế như sau:

- Cơ quan sử dụng công chức có trách nhiệm xác định và mô tả vị trí việc làm, sau đó báo cáo cơ quan quản lý công chức để được phê duyệt và sử dụng làm căn cứ tuyển dụng công chức.

- Hàng năm, cơ quan sử dụng công chức phải xây dựng kế hoạch tuyển dụng công chức và báo cáo cơ quan quản lý công chức để được phê duyệt, sau đó tổ chức quá trình tuyển dụng theo quy định.

Thứ hai, đối với viên chức, theo quy định tại Luật Viên chức năm 2010, việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập.

3. Biên chế công chức hàng năm có thể thay đổi thành 05 năm?

Hiện nay, đã có đề xuất sửa đổi quy định về biên chế công chức từ hàng năm thành mỗi 5 năm. Đề xuất này được đề cập trong dự thảo Nghị định về vị trí việc làm và biên chế công chức, số lượng người làm việc trong các cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập. Hiện tại, Bộ Nội vụ đang thu thập ý kiến về dự thảo Nghị định này.

Theo dự thảo Nghị định, Mục 1 Chương III về biên chế công chức và biên chế sự nghiệp đã đề xuất sửa đổi các quy định về biên chế công chức từ việc xem xét hàng năm thành việc xem xét sau mỗi 5 năm, với các điều khoản như sau:

(1) Trình tự phê duyệt biên chế công chức 5 năm (theo Điều 11 dự thảo Nghị định):

Dưới đây là quy trình phê duyệt biên chế công chức trong vòng 5 năm được đề xuất trong Điều 11 của dự thảo Nghị định:

- Các cơ quan, tổ chức hành chính thuộc bộ, ngành, địa phương sẽ dựa vào khoản 2 của Điều 4 trong dự thảo Nghị định để xây dựng kế hoạch biên chế công chức trong vòng 5 năm cho cơ quan, tổ chức của họ. Kế hoạch này sẽ được gửi cho cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 2 và khoản 3 của Điều 11 trong dự thảo Nghị định.

- Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ về tổ chức cán bộ của bộ, ngành sẽ thẩm định kế hoạch biên chế công chức trong vòng 5 năm của các cơ quan, tổ chức hành chính thuộc phạm vi quản lý của bộ ngành. Sau đó, họ sẽ tổng hợp và lập kế hoạch biên chế công chức trong vòng 5 năm của bộ, ngành và gửi cho người đứng đầu để trình Bộ Nội vụ.

- Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ về tổ chức cán bộ của địa phương sẽ thẩm định kế hoạch biên chế công chức trong vòng 5 năm của các cơ quan, tổ chức hành chính thuộc phạm vi quản lý của địa phương. Sau đó, họ sẽ tổng hợp và lập kế hoạch biên chế công chức trong vòng 5 năm của địa phương và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để gửi cho cơ quan có thẩm quyền của Đảng ở địa phương để ý kiến trước khi gửi Bộ Nội vụ.

- Bộ Nội vụ sẽ thẩm định kế hoạch biên chế công chức trong vòng 5 năm của từng bộ, ngành và tổng hợp kế hoạch biên chế công chức trong vòng 5 năm của địa phương để trình Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ báo cáo Ban chỉ đạo Trung ương về quản lý biên chế.

Dựa trên việc cơ quan có thẩm quyền của Đảng ở Trung ương đã thông qua số biên chế công chức, Bộ Nội vụ sẽ trình Chính phủ để giao biên chế công chức cho các bộ, ngành và đồng thời trình Chính phủ bằng văn bản đề nghị cho các địa phương quyết định cụ thể về biên chế công chức của từng cơ quan, tổ chức hành chính thuộc phạm vi quản lý.

- Bộ, ngành, địa phương sẽ quyết định giao biên chế công chức hàng năm đối với từng cơ quan, tổ chức thuộc bộ, ngành, địa phương trong tổng số biên chế công chức 5 năm được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giao.

(2) Nội dung kế hoạch biên chế công chức 5 năm (theo Điều 12 dự thảo Nghị định):

- Sự cần thiết phải lập kế hoạch biên chế công chức trong 5 năm.

- Báo cáo đánh giá việc giao, quản lý và sử dụng biên chế công chức trong 5 năm trước đó, kết hợp với kế hoạch 5 năm sắp tới.

- Kế hoạch biên chế công chức trong 5 năm và hàng năm của từng cơ quan, tổ chức; bao gồm việc thống kê, tổng hợp số liệu biên chế công chức theo Phụ lục IA hoặc Phụ lục IB được ban hành cùng với Nghị định.

- Giải pháp thực hiện kế hoạch biên chế công chức sau khi được cấp có thẩm quyền giao hoặc phê duyệt, dự kiến nguồn công chức bổ sung, thay thế, thực hiện chính sách tinh giản biên chế và dự toán kinh phí để thực hiện.

- Kiến nghị, đề xuất

(3) Hồ sơ, thời hạn gửi kế hoạch biên chế công chức 5 năm (Điều 13 dự thảo Nghị định):

* Về kế hoạch biên chế công chức 5 năm, hồ sơ cần bao gồm:

- Văn bản đề nghị kế hoạch biên chế công chức 5 năm;

- Kế hoạch biên chế công chức 05 năm của cơ quan, tổ chức theo quy định tại Điều 11 của dự thảo Nghị định;

- Bản sao các văn bản của cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt biên chế công chức 5 năm, hàng năm trước liền kề với 5 năm kế hoạch.

* Thời hạn gửi hồ sơ kế hoạch biên chế công chức 5 năm được quy định như sau:

- Trước ngày 01/4 năm trước liền kề năm đầu tiên của kế hoạch biên chế công chức 5 năm, các bộ, ngành, địa phương cần gửi hồ sơ kế hoạch biên chế công chức đến Bộ Nội vụ;

- Trước ngày 01/6 năm trước liền kề năm đầu tiên của kế hoạch biên chế công chức 5 năm, Bộ Nội vụ cần trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để báo cáo Ban chỉ đạo Trung ương về quản lý biên chế và quyết định tổng biên chế công chức 5 năm của bộ, ngành, địa phương.

Ngoài ra ở (3) mục này, dự thảo Nghị định đề xuất một số thay đổi so với hiện tại, bao gồm đề xuất sửa biên chế công chức từ hằng năm thành 05 năm. Ngoài ra, còn có đề xuất sửa đổi thời hạn gửi kế hoạch biên chế công chức và bỏ quy định về việc xử lý các bộ, ngành, địa phương không gửi kế hoạch đúng thời hạn. Nếu không gửi đúng thời hạn, họ sẽ bị xem xét và quyết định về việc giảm biên chế công chức với tỷ lệ tinh giản cao hơn 1% so với tỷ lệ tinh giản theo lộ trình hằng năm.

Để tìm hiểu thêm thông tin liên quan, mời quý bạn đọc cùng tham khảo bài viết dưới đây của Luật Minh Khuê: Biên chế là gì? Phân biệt lao động biên chế với lao động hợp đồng 

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Biên chế công chức hàng năm có thể thay đổi thành 05 năm? Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.