1. Các mức độ phản vệ có thể gặp phải khi bị dị ứng? 

Khi cơ thể tiếp xúc với các dị nguyên như hải sản, phấn hoa, hoặc thuốc uống, có khả năng gây ra phản ứng dị ứng, cơ thể thường sẽ phản ứng bằng cơ chế tự vệ để bảo vệ chống lại sự xâm nhập của dị nguyên đó. Cơ chế tự vệ này thường được gọi là phản vệ.

Mức độ của phản vệ được quy định cụ thể trong Phụ lục II của Thông tư 51/2017/TT-BYT ngày 29 tháng 12 năm 2017 do Bộ Y tế ban hành. Các mức độ phản vệ được xác định như sau:

Phản vệ được phân thành 4 mức độ như sau:

(lưu ý mức độ phản vệ có thể nặng lên rất nhanh và không theo tuần tự)

- Nhẹ (độ I): Chỉ có các triệu chứng da, tổ chức dưới da và niêm mạc như mày đay, ngứa, phù mạch.

- Nặng (độ II): có từ 2 biểu hiện ở nhiều cơ quan:

+ Mày đay, phù mạch xuất hiện nhanh.

+ Khó thở nhanh nông, tức ngực, khàn tiếng, chảy nước mũi.

+ Đau bụng, nôn, ỉa chảy.

+ Huyết áp chưa tụt hoặc tăng, nhịp tim nhanh hoặc loạn nhịp.

- Nguy kịch (độ III): biểu hiện ở nhiều cơ quan với mức độ nặng hơn như sau:

+ Đường thở: tiếng rít thanh quản, phù thanh quản.

+ Thở: thở nhanh, khò khè, tím tái, rối loạn nhịp thở.

+ Rối loạn ý thức: vật vã, hôn mê, co giật, rối loạn cơ tròn.

+ Tuần hoàn: sốc, mạch nhanh nhỏ, tụt huyết áp.

- Ngừng tuần hoàn (độ IV): Biểu hiện ngừng hô hấp, ngừng tuần hoàn.

Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên có 4 mức độ phản vệ là:

- Mức độ nhẹ (độ I)

- Mức độ nặng (độ II)

- Mức độ nguy kịch (độ III)

- Mức độ ngừng tuần hoàn (độ IV)

2. Quy định về nguyên tắc dự phòng phản vệ

Căn cứ theo quy định tại Điều 6 Thông tư 51/2017/TT-BYT quy định về nguyên tắc dự phòng phản vệ như sau:

Cơ sở khám bệnh và chữa bệnh cùng với bác sĩ và nhân viên y tế phải tuân thủ một số nguyên tắc dự phòng phản vệ như sau:

- Chỉ sử dụng đường dùng thuốc phù hợp nhất: Đặt ưu tiên cho việc sử dụng đường dùng thuốc an toàn nhất cho bệnh nhân và chỉ tiêm thuốc khi không có đường dùng khác phù hợp.

-Không thử phản ứng cho tất cả thuốc trừ trường hợp có chỉ định của bác sĩ: Tránh việc thử phản ứng với tất cả thuốc trừ khi có chỉ định cụ thể của bác sĩ, tuân thủ quy định tại Phụ lục VIII của Thông tư.

- Không kê đơn hoặc chỉ định dùng thuốc/dị nguyên đã gây phản vệ: Tránh kê đơn hoặc chỉ định dùng thuốc/dị nguyên mà đã biết gây phản vệ cho người bệnh.

- Hội chẩn và có sự đồng ý bằng văn bản: Trong trường hợp cần sử dụng thuốc hoặc dị nguyên đã gây phản vệ, phải hội chẩn với chuyên khoa dị ứng-miễn dịch lâm sàng hoặc bác sĩ được tập huấn về phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ, và phải có sự đồng ý bằng văn bản từ người bệnh hoặc đại diện hợp pháp.

- Báo cáo các trường hợp phản vệ: Tất cả các trường hợp phản vệ phải được báo cáo đến Trung tâm Quốc gia về Thông tin Thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc hoặc Trung tâm Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh về Thông tin Thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc theo mẫu báo cáo hiện hành.

- Khai thác kỹ tiền sử dị ứng: Bác sĩ và nhân viên y tế khác phải khai thác kỹ tiền sử dị ứng thuốc, dị nguyên của người bệnh trước khi kê đơn thuốc hoặc chỉ định sử dụng thuốc.

- Cấp thẻ theo dõi dị ứng: Khi đã xác định được thuốc hoặc dị nguyên gây phản vệ, cần cấp thẻ theo dõi dị ứng cho người bệnh và giải thích kỹ càng, nhắc nhở người bệnh cung cấp thông tin này mỗi khi khám bệnh, chữa bệnh.

3. Xử trí phản vệ trong một số trường hợp đặc biệt?

Theo quy định tại Phục lục IV Ban hành kèm theo Thông tư 51/2017/TT-BYT hướng dẫn xử trí phản vệ đối với một số trường hợp đặc biệt như sau:

 Phản vệ trên đối tượng sử dụng thuốc đặc biệt

- Phản vệ trên người đang dùng thuốc chẹn thụ thể Beta:

+ Đáp ứng của người bệnh này với adrenalin thường kém, làm tăng nguy cơ tử vong.

+ Điều trị: về cơ bản giống như phác đồ chung xử trí phản vệ, cần theo dõi sát huyết áp, truyền tĩnh mạch adrenalin và có thể truyền thêm các thuốc vận mạch khác.

+ Thuốc giãn phế quản: nếu thuốc cường beta 2 đáp ứng kém, nên dùng thêm kháng cholinergic: ipratropium (0,5mg khí dung hoặc 2 nhát đường xịt).

+ Xem xét dùng glucagon khi không có đáp ứng với adrenalin.

- Phản vệ trong khi gây mê, gây tê phẫu thuật:

+ Những trường hợp này thường khó chẩn đoán phản vệ vì người bệnh đã được gây mê, an thần, các biểu hiện ngoài da có thể không xuất hiện nên không đánh giá được các dấu hiệu chủ quan, cần đánh giá kỹ triệu chứng trong khi gây mê, gây tê phẫu thuật như huyết áp tụt, nồng độ oxy máu giảm, mạch nhanh, biến đổi trên monitor theo dõi, ran rít mới xuất hiện.

+ Ngay khi nghi ngờ phản vệ, có thể lấy máu định lượng tryptase tại thời điểm chẩn đoán và mức tryptase nền của bệnh nhân.

+ Chú ý khai thác kỹ tiền sử dị ứng trước khi tiến hành gây mê, gây tê phẫu thuật để có biện pháp phòng tránh.

+ Lưu ý: một số thuốc gây tê là những hoạt chất ưa mỡ (lipophilic) có độc tính cao khi vào cơ thể gây nên một tình trạng ngộ độc nặng giống như phản vệ có thể tử vong trong vài phút, cần phải điều trị cấp cứu bằng thuốc kháng độc (nhũ dịch lipid) kết hợp với adrenalin vì không thể biết được ngay cơ chế phản ứng là nguyên nhân ngộ độc hay dị ứng.

+ Dùng thuốc kháng độc là nhũ dịch lipid tiêm tĩnh mạch như Lipofundin 20%, Intralipid 20% tiêm nhanh tĩnh mạch, có tác dụng trung hòa độc chất do thuốc gây tê tan trong mỡ vào tuần hoàn. Liều lượng như sau: Người lớn: tổng liều 10ml/kg, trong đó bolus 100ml, tiếp theo truyền tĩnh mạch 0,2-0,5ml/kg/phút; Trẻ em: tổng liều 10ml/kg, trong đó bolus 2ml/kg, tiếp theo truyền tĩnh mạch 0,2-0,5ml/kg/phút.

Trường hợp nặng, nguy kịch có thể tiêm 2 lần bolus cách nhau vài phút.

- Phản vệ với thuốc cản quang:

+ Phản vệ với thuốc cản quang xảy ra chủ yếu theo cơ chế không dị ứng.

+ Khuyến cáo sử dụng thuốc cản quang có áp lực thẩm thấu thấp và không ion hóa (tỷ lệ phản vệ thấp hơn).

Các trường hợp đặc biệt khác

- Phản vệ do gắng sức

+ Là dạng phản vệ xuất hiện sau hoạt động gắng sức.

+ Triệu chứng điển hình: bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức, nóng bừng, đỏ da, ngứa, mày đay, có thể phù mạch, khò khè, tắc nghẽn đường hô hấp trên, trụy mạch. Một số bệnh nhân thường chỉ xuất hiện triệu chứng khi gắng sức có kèm thêm các yếu tố đồng kích thích khác như: thức ăn, thuốc chống viêm giảm đau không steroid, rượu, phấn hoa.

+ Người bệnh phải ngừng vận động ngay khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên. Người bệnh nên mang theo người hộp thuốc cấp cứu phản vệ hoặc bơm tiêm adrenalin định liều chuẩn (EpiPen, AnaPen...). Điều trị theo Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này.

+ Gửi khám chuyên khoa Dị ứng-miễn dịch lâm sàng sàng lọc nguyên nhân.

- Phản vệ vô căn

+ Phản vệ vô căn được chẩn đoán khi xuất hiện các triệu chứng phản vệ mà không xác định được nguyên nhân.

+ Điều trị theo Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này.

+ Điều trị dự phòng: được chỉ định cho các bệnh nhân thường xuyên xuất hiện các đợt phản vệ (> 6 lần/năm hoặc > 2lần/2 tháng).

+ Điều trị dự phòng theo phác đồ: Prednisolon 60-100mg/ngày x 1 tuần, sau đó; Prednisolon 60mg/cách ngày x 3 tuần, sau đó; Giảm dần liều prednisolon trong vòng 2 tháng; Kháng H1: cetirizin 10mg/ngày, loratadin 10mg/ngày....

Như vậy, các trường hơp xử trí phản vệ đặc biệt gồm:

- Phản vệ trên người đang dùng thuốc chẹn thụ thể Beta

- Phản vệ trong khi gây mê, gây tê phẫu thuật

- Phản vệ với thuốc cản quang

- Phản vệ do gắng sức

- Phản vệ vô căn.

Xem thêm: Bộ Y tế hướng dẫn chuẩn đoán và điều trị bệnh thủy đậu

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Quy định về các mức độ phản vệ có thể gặp phải khi bị dị ứng? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!