1. Thế nào là vi phạm hợp đồng?
Vi phạm hợp đồng là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng là những nghĩa vụ đã được ghi nhận trong các điều khoản của hợp đồng hoặc được pháp luật điều chỉnh hợp đồng đó quy định.
2. Vi phạm hợp đồng thương mại là gì?
Hành vi vi phạm hợp đồng là xử sự của các chủ thể hợp đồng không phù hợp với các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng. Biểu hiện cụ thể của hành vi vi phạm hợp đồng là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ theo hợp đồng. Cần lưu ý, các bên không chỉ thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng mà còn phải thực hiện cả những nghĩa vụ theo quy định của pháp luật (nội dung thường lệ của hợp đồng). Vậy nên, khi xem xét một hành vi có là hành vi vi phạm hợp đồng hay không phải căn cứ vào các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng và cả quy định pháp luật có liên quan.
3. Các căn cứ phạt vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật
Luật thương mại năm 2005 quy định về phạt vi phạm như sau: “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận”.
Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm”.
Các quy định này cho thấy, điều kiện áp dụng phạt vi phạm là: Hợp đồng phải có hiệu lực, có hành vi vi phạm hợp đồng, có thỏa thuận áp dụng phạt vi phạm.
Hợp đồng phải có hiệu lực: Đây là điều kiện đầu tiên và có tính quyết định của vấn đề phạt vi phạm hợp đồng. Hợp đồng có hiệu lực pháp luật mới làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ tương ứng, trực tiếp giữa các chủ thể giao kết hợp đồng, trong đó có phạt vi phạm hợp đồng. Do vậy, chế định phạt vi phạm hợp đồng chỉ xảy ra khi hợp đồng có hiệu lực pháp luật.
Vụ việc thực tiễn đã minh chứng điều này: Ngày 22/09/2016, Công ty Cổ phần K Việt Nam (sau đây gọi tắt là K) và Công ty TNHH S (sau đây gọi tắt là S) có ký kết Hợp đồng kinh tế số KV/HD/16/2209 về việc mua bán hàng hóa (mua bán mặt hàng thép). Hợp đồng được xây dựng trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận; nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật; về hình thức, hợp đồng được lập bằng văn bản, được đại diện có thẩm quyền của K Việt Nam và S cùng tiến hành ký kết và đóng dấu đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, K đã nhiều lần thực hiện việc bàn giao hàng hóa, xuất hóa đơn VAT, kê khai thuế..., S cũng đã nhận hàng, nhận hóa đơn, xác nhận công nợ và thanh toán một phần công nợ cho Công ty Cổ phần K Việt Nam. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, K luôn tuân thủ các quy định đã giao kết, S lại liên tục vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo các cam kết trong hợp đồng. Vì vậy, Công ty cổ phần K Việt Nam khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH S thanh toán số tiền nợ gốc, tiền lãi chậm trả và số tiền phạt vi phạm hợp đồng.
Trên cơ sở biên bản xác nhận công nợ đối với Hợp đồng kinh tế số KV/HD/16/2209, TAND quận Nam Từ Liêm, Hà Nội đã nhận định: “việc Công ty TNHH S không thanh toán được tiền hàng cho Công ty cổ phần K Việt Nam theo Hợp đồng đã ký kết nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền gốc là 2.060.162.802 đồng là có căn cứ, cần được chấp nhận”.
Như vậy, tại bản án này, Tòa án đã xác định trước khi giải quyết vấn đề thanh toán số tiền nợ gốc, tiền lãi chậm trả và số tiền phạt vi phạm hợp đồng, Tòa án phải xác định hợp đồng ký kết giữa Công ty Cổ phần K Việt Nam và Công ty TNHH S phải có hiệu lực pháp luật. Hợp đồng có hiệu lực pháp luật mới làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Nhận định của Tòa án tại bản án vừa nêu là thuyết phục.
Có hành vi vi phạm hợp đồng: Hành vi vi phạm hợp đồng là căn cứ pháp lý cần thiết để áp dụng đối với tất cả các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng trong đó có phạt vi phạm hợp đồng. “Hành vi vi phạm hợp đồng là hành vi “không thực hiện”, “thực hiện không đầy đủ” hoặc “thực hiện không đúng” hợp đồng”.
Việc xác định được hành vi vi phạm hợp đồng là cần thiết vì đó là căn cứ pháp lý không thể thiếu để áp dụng các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại nói chung và chế tài buộc thực hiện hợp đồng nói riêng. Nếu không có hành vi vi phạm hợp đồng thì tất nhiên không thể áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng.
Có thỏa thuận phạt vi phạm: Khác với các chế tài khác, chế tài phạt vi phạm hợp đồng chỉ có thể được áp dụng nếu các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm trong hợp đồng. Và vấn đề đặt ra là thỏa thuận phạt vi phạm này có nhất thiết phải “xuất hiện” trong hợp đồng hay không? Tức là các chủ thể phải thỏa thuận với nhau về điều khoản phạt vi phạm hợp đồng trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng và có cần phải được ghi vào trong hợp đồng không?
Theo quy định tại Luật thương mại: “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận”, và với sự tiến bộ của Bộ luật dân sự 2015 đã đưa “trách nhiệm do vi phạm hợp đồng” vào phần “Nội dung của hợp đồng”.
Từ đó, có thể thấy: Vì phạt vi phạm là một nội dung của hợp đồng nên các thỏa thuận nhất thiết phải được ghi cụ thể trong hợp đồng để làm cơ sở giải quyết cho các bên sau này; phạt vi phạm không còn là một vấn đề do pháp luật quy định mà là do các bên thỏa thuận trong nội dung của hợp đồng (pháp luật điều chỉnh). Tức là vấn đề phạt vi phạm không bắt buộc đối với tất cả hợp đồng dân sự, thương mại. Nếu các chủ thể có thỏa thuận phạt vi phạm thì Tòa án giải quyết và nếu không thỏa thuận thì Tòa án không giải quyết.
4. Điều khoản phạt vi phạm hợp đồng
Bộ luật Dân sự cũ trước đây quy định phạt vi phạm là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, biện pháp này đã bị loại ra khỏi các biện pháp bảo đảm trong hai Bộ luật Dân sự cũ và 2015.
Hiện nay, phạt vi phạm được quy định tại Luật Thương mại cũ và Bộ luật Dân sự năm 2015. Phạt vi phạm được quy định trong mục “thực hiện hợp đồng” của Bộ luật Dần sự năm 2015 (giống như quy định về cầm giữ tài sản trong hai Bộ luật Dân sự cũ trước đây). Theo đó, phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, trong đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật hên quan có quy định khác.
Luật Thương mại cũ quy định, phạt vi phạm là một trong 7 loại chế tài xử lý vi phạm hợp đồng; là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm.
Cả hai Bộ luật Dân sự cũ và 2015 đều không khống chế mức phạt tối đa. Điều này là khác với quy định mức phạt không quá 5% của giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm trước kia của Bộ luật Dân sự cũ hay không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm (trừ trường hợp kết quả giám định sai) theo quy định của Luật Thương mại cũ .
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thưòng thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm. Điều này ngược với quy định về phạt hợp đồng là “chế tài trong thương mại”, Luật Thương mại cũ, trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật Thương mại có quy định khác. Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật Thương mại có quy định khác.
Tuy hai Bộ luật Dân sự cũ và 2015 không còn quy định phạt vi phạm là một biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự, nhưng bản chất đó vẫn là một biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, một loại bảo đảm nghĩa vụ dân sự nói chung.
Có một vấn đề chưa rõ là, các hợp đồng bảo đảm như cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp và bảo lưu quyền sở hữu, khi có vi phạm hợp đồng, thì có được phạt vi phạm hay không? Nếu theo nguyên tắc chung thì việc này hoàn toàn có thể áp dụng chế tài phạt vi phạm đôi với việc vi phạm các hợp đồng bảo đảm. Chẳng hạn, các bên có thể thỏa thuận, khi phát sinh nghĩa vụ, bên thế chấp có nghĩa vụ giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp xử lý, nếu không giao thì sẽ bị phạt 10% giá trị tài sản thế chấp. Tuy nhiên, nếu coi biện pháp bảo đảm là một bộ phận của hợp đồng, là một chế tài để phòng ngừa vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, thì việc phạt vi phạm về việc này lại có phần không hợp lý. Đây là một vấn đề cần phải có hướng dẫn hoặc dựa vào án lệ sau này.
5. Mối quan hệ giữa bồi thường và phạt vi phạm
Theo quy định của Luật Thương mại: “Trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”. Từ đó cho thấy chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng kinh doanh, thương mại và chế tài phạt vi phạm là hai chế tài có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Nếu như chế tài phạt vi phạm với chức năng chủ yếu là “trừng phạt”, răn đe, ngăn ngừa hành vi vi phạm, và chế tài phạt vi phạm chỉ có thể được áp dụng trong trường hợp các bên đã có thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng thì chế tài bồi thường thiệt hại là nhằm khôi phục, bù đắp, bồi hoàn lợi ích vật chất bị thiệt hại cho bên bị vi phạm. Bồi thường thiệt hại được áp dụng khi có đủ các căn cứ pháp lý theo luật định như có hành vi vi phạm hợp đồng; có thiệt hại thực tế; hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhản trực tiếp gây ra thiệt hại và có lỗi của bên vi phạm. Tuy nhiên, chế tài bồi thường thiệt hại và chế tài phạt vi phạm vẫn có một điểm chung đó là cả hai chế tài này đều nhằm mục đích thúc đẩy các bên tham gia quan hệ hợp đồng phải có trách nhiệm và thiện chí thực hiện các cam kết đã thỏa thuận.
Pháp luật Việt Nam ghi nhận có hai văn bản pháp luật có giá trị điều chỉnh quan hệ về chế tài phạt vi phạm là Bộ luật dân sự 2015 và Luật thương mại 2005.
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 về mức phạt vi phạm được áp dụng cho các quan hệ dân sự thì mức phạt vi phạm do các bên tự thỏa thuận. Tức là các bên có quyền tự do ý chí lựa chọn mức phạt vi phạm mà không hề bị khống chế bởi quy định của pháp luật. “Điều luật không quy định mức phạt vi phạm mà chỉ dựa trên sự thỏa thuận của các bên, theo đó mức phạt vi phạm có thể rất cao hoặc thấp, tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng”. Quy định này xuất phát từ nguyên tắc tự do thỏa thuận theo quy định của pháp luật dân sự .
Còn đối với Luật Thương mại điều chỉnh thì mức phạt vi phạm bị hạn chế ở mức không quá 8%.Và điều chỉnh các quan hệ thương mại đó là “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Những quan hệ này khi có tranh chấp xảy ra và có điều khoản về phạt vi phạm thì sẽ áp dụng mức phạt vi phạm tối đa là 8%.
>> Xem thêm: Mức phạt vi phạm hợp đồng theo quy định mới nhất là bao nhiêu?