1. Khái quát chung

Mặc dù Điều 27 Luật THAHS năm 2019 là điều luật hoàn toàn mới quy định về quyền và nghĩa vụ của phạm nhân. Luật THAHS năm 2019 đã tập hợp các quyền này thành điều luật riêng - Điều 27 và bổ sung thêm 4 quyền mới cho phạm nhân. 
Điều 27. Quyền và nghĩa vụ của phạm nhân
1. Phạm nhân có các quyền sau đây:
a) Được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân;
b) Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế theo quy định; gửi, nhận thư, nhận quà, tiền; đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điều kiện của nơi chấp hành án;
c) Được tham gia hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ;
d) Được lao động, học tập, học nghề;
đ) Được gặp, liên lạc với thân nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân; đối với phạm nhân là người nước ngoài được thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự;
e) Được tự mình hoặc thông qua người đại diện để thực hiện giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật;
g) Được bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo; được đề nghị xét đặc xá, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;
h) Được tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, hưởng chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật;
i) Được sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật;
k) Được khen thưởng khi có thành tích trong quá trình chấp hành án.

2. Quyền được bảo hộ tính mạng, SK , tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến quyền và nghĩa vụ

Quyền được bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân. Quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người nói chung và phạm nhân nói riêng đã được khẳng định trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế. Bên cạnh đó, cũng để bảo vệ sức khoẻ và nhân phẩm của những người phải chấp hành hình phạt tước tự do, pháp luật quốc tế quy định không được sử dụng các dụng cụ giam giữ như cũi, xiềng xích hay cùm tay, cùm chân để trừng phạt hoặc để giam giữ, trừ một số trường hợp như để đề phòng tù nhân chạy trốn khi di chuyển; vì lí do y tế theo chỉ dẫn của cán bộ y tế; theo lệnh của giám đốc nhà tù nếu các biện pháp kiểm soát khác thất bại, để phòng tránh cho việc tù nhân gây thương tích cho bản thân hay cho người khác hoặc phá huỷ tài sản.
Ở Việt Nam, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận tại Điều 20 như sau: 
Điều 20.
1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
Hiến pháp đã khẳng định quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm của mọi người trong xã hội và Nhà nước có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ bằng việc thiết lập các cơ chế hữu hiệu để có thể bảo đảm tốt nhất quyền này. Đây là nguyên tắc có tính chất định hướng cho việc hình thành hệ thống pháp luật bảo vệ quyền trên. Do đó việc quy định quyền được bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân trong Luật THAHS là hoàn toàn phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và các chính sách, pháp luật của nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người của phạm nhân trong thời gian phải chấp hành hình phạt tù. Như vậy, khi phải chấp hành án tại các trại tạm giam, trại giam, phạm nhân được Nhà nước bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm. Bởi trong hoàn cảnh bị giam giữ, bị tước tự do, họ là “những người yếu thế” nên họ không tự bảo vệ mình được trước hành vi xâm phạm của cơ quan, tổ chức và cá nhân khác. Khi bắt đầu phải chấp hành hình phạt trong trại giam, phạm nhân có quyền được cán bộ trại giam phổ biến quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân. Điều này giúp cho phạm nhân nắm rõ được các quyền và nghĩa vụ cũng như nội quy của cơ sở giam giữ để tuân thủ đúng nội quy và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình.

3. Quyền được tự mình hoặc thông qua người đại diện để thực hiện giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật

Các giao dịch dân sự đối với cá nhân là vô cùng quan trọng đối với bất kì người nào, đặc biệt là phạm nhân khi bị tước tự do. Trong thời gian bị tước tự do, phải chấp hành hình phạt trong trại giam, phạm nhân có thể vẫn phải thực hiện các giao dịch dân sự như mua bán nhà thuộc sở hữu, li hôn, thừa kế, thế chấp, vay mượn, thanh toán… Các giao dịch dân sự này bắt buộc phải theo quy định của pháp luật. Vì vậy, việc quy định quyền mới này đảm bảo quyền lợi cho phạm nhân dù họ bị hạn chế tự do nhưng vẫn có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện thực hiện giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật.

4. Quyền được sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật

4.1 Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận tại Điều 18 Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948; được tái khẳng định và cụ thể hoá tại các Điều 18 và Điều 20 Công ước quốc tế về Các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Theo Điều 18 Công ước quốc tế về Các quyền dân sự và chính trị: “Mọi người đều có quyền tự do chính kiến, niềm tin, tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn và tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc kín đáo, dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng. Không ai bị ép buộc làm tổn hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng của ho. Quyền tự do bày tỏ tôn giáo, tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khoẻ và đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”. Liên quan đến nội dung của khoản 3 Điều 18, Bình luận chung số 22 thông qua tại phiên họp lần thứ 48 năm 1993 của Ủy ban giám sát thực hiện Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá đã giải thích như sau: Những hạn chế trong khoản 3 Điều 18 cần phải được quy định trong pháp luật và phải phù hợp với các quy định khác của Công ước, đặc biệt là các quy định về quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử trong các điều 2, 3 và 26 của Công ước. Những người bị quản chế về mặt pháp lí, chẳng hạn như tù nhân, vẫn có quyền được hưởng tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở mức độ cao nhất phù hợp với điều kiện quản chế như vậy, quyền tự do tôn giáo tín ngưỡng không phải là quyền tuyệt đối, tù nhân có quyền này song bị giới hạn bởi quy định pháp luật.

4.2 Quyền được sử dụng kinh sách

Quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của phạm nhân cũng đã được đề cập trong Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử đối với tù nhân của Liên Hợp quốc năm 1955. Theo đó, nếu nhà tù có đủ số tù nhân cùng theo một tín ngưỡng thì một đại diện đủ tư cách của tín ngưỡng đó phải được chỉ định hoặc chấp thuận. Thậm chí nếu số lượng tù nhân là thoả đáng và nếu điều kiện cho phép thì cần thoả thuận để người đại diện đó làm việc toàn thời gian, người đại diện này được tổ chức đi thăm tù nhân theo tín ngưỡng của người đó một cách riêng tư vào thời điểm thích hợp. Trong chừng mực có thể thực hiện được, mọi tù nhân phải được thoả mãn nhu cầu đời sống tín ngưỡng bằng việc tham gia các buổi lễ tổ chức trong nhà tù, được sở hữu sách kinh của tôn giáo và giáo phái của người đó. Tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo được ghi nhận trong Điều 24 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền con người cơ bản và chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng, tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân có thể thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, coi trọng chính sách đoàn kết, hoà hợp giữa các tôn giáo. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) cũng quy định: “Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo” (khoản 5 Điều 6).
Trên cơ sở tiếp thu những quy định mới và tiến bộ trong các văn bản pháp luật trên, để bảo đảm quyền con người của phạm nhân, Luật THAHS năm 2019 cũng đã đề cập vấn đề này. Tuy nhiên, quyền tự do tín ngưỡng của phạm nhân đang chấp hành án trong trại giam chỉ giới hạn trong việc sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo. Trong khi đó, các chuẩn mực quốc tế liên quan đến tự do, tín ngưỡng của tù nhân có phạm vi mở rộng và hình thức thực hiện đa dạng. Dù chưa được mở rộng như trong các văn kiện quốc tế song việc ghi nhận trong Luật THAHS về quyền được sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật cũng đã phần nào bảo đảm quyền cơ bản của con người của phạm nhân, mặt khác đáp ứng được tiêu chí quốc tế tối thiểu về quyền liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo. 
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê