1. Quy định về thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm vụ án dân sự ?

Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo cho người kháng cáo biết để họ nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật, nếu họ không thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí phúc thẩm. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người kháng cáo phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và nộp cho tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.

Hết thời hạn này mà người kháng cáo không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thì được coi là từ bỏ việc kháng cáo, trừ trường hợp có lí do chính đáng. Trường hợp sau khi hết thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người kháng cáo mới nộp cho tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà không nêu rõ lí do thì tòa ản cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của tòa án phải có văn bản ưình bày lí do chậm nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nộp cho tòa án cấp sơ thẩm để đưa vào hồ sơ vụ án. Trường hợp này được xử lí theo thủ tục xem xét kháng cáo quá hạn.

2. Bản án phúc thẩm vụ án dân sự

Hội đồng xét xử ra bản án phúc thẩm nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cơ cấu bản án phúc thẩm gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung vụ án, kháng cáo, kháng nghị, nhận định và phần quyết định. Nội dung từng phần trong bản án phải ghi đầy đủ các vấn đề theo quy định tại Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên của tòa án xét xử phúc thẩm; số và ngày thụ lí vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của các thành viên hội đồng xét xử, thư kí phiên tòa, kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch; tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện; người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; người kháng cáo, viện kiểm sát kháng nghị; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử.

Trong phần nội dung vụ án, kháng cáo, kháng nghị và nhận định phải tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm; nội dung kháng cáo, kháng nghị. Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định về kháng cáo, kháng nghị, các tình tiết của vụ án, việc giải quyết, xét xử của tòa án cấp sơ thẩm, những căn cứ pháp luật mà tòa án áp dụng. Nếu vụ án thuộc trường họp quy định tại khoản 2 Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng, để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giải quyết các vấn đề khác có liên quan.

Trong phần quyết định phải ghi rõ các căn cứ pháp luật, quyết định của hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí sơ thẩm, phúc thẩm, chi phí tố tụng (nếu có).

Khi xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị huỷ một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì tòa án phải giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nêu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị huỷ và ghi rõ trong bản án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê