1.Khái niệm về cầm cố tài sản
Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo điều 309 Bộ luật dân sự.
Hợp đồng cầm cố tài sản là sự thỏa thuận giữa bên cầm cố và bên nhận cầm cố, bên cầm cố giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên nhận cầm cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhất định.
2. Phân biệt giữa cầm cố và thế chấp
Điểm giống nhau :
Cầm cố và thế chấp có những điểm giống nhau như: Khi thực hiện cầm cố, thế chấp thì hợp đồng phải được thành lập dưới dạng văn bản.
Thỏa thuận và cầm cố tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Chấm dứt hợp đồng trong 4 trường hợp, gồm: Nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố/thế chấp chấm dứt.
Việc cầm cố, thế chấp tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
Tài sản cầm cố/thế chấp đã được xử lý.
Theo thỏa thuận của các bên.
Điểm khác nhau giữa cầm cố và thế chấp
Khái niệm
- Cầm cố tài sản là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
- Thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia.
Tài sản
- Cầm cố các tài sản như: Động sản, các loại giấy tờ có giá như trái phiếu, cổ phiếu...
- Thế chấp các tài sản: Bất động sản, động sản, quyền tài sản.
Trả lại tài sản
- Khi việc cầm cố tài sản chấm dứt tài sản cầm cố, giấy tờ liên quan đến tài sản cầm cố được trả lại cho bên cầm cố.
Hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản cầm cố cũng được trả lại cho bên cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Còn thế chấp, bên nhận thế chấp trả các giấy tờ cho bên thế chấp sau khi chấm dứt thế chấp đối với trường hợp các bên thỏa thuận bên nhận thế chấp giữ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp.
Hiệu lực đối kháng với người thứ 3
- Cầm cố tài sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố.
Trường hợp bất động sản là đối tượng của cầm cố theo quy định của luật thì việc cầm cố bất động sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.
- Còn trường hợp thế chấp tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.
3.Chủ thể của cầm cố tài sản
Bên cầm cố: là bên phải giao tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ. Thông thường, bên cầm cố là bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm cố đó.
Bên nhận cầm cố: là bên nhận tài sản từ bên cầm cố để bảo đảm cho quyền và lợi ích của mình trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ nghĩa vụ. Bên nhận cầm cố là bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm cố đó.
Hình thức của cầm cố tài sản
Bộ luật dân sự năm 2015 không xác định rõ về hình thức của cầm cố tài sản, tuy nhiên theo quy định tại Điều 310 Bộ luật dân sự năm 2015 thì có thể hiểu:
Nếu cầm cố tài sản là động sản thì có thể bằng hình thức miệng hoặc hình thức văn bản;
Nếu cầm cố bất động sản thì bắt buộc phải bằng văn bản.
Cùng theo quy định tại điều luật trên thì văn bản cầm cố không nhất thiết phải công chứng hoặc chứng thực hoặc đăng ký, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác.
Thông thường, nếu tài sản cầm cố không phải đăng ký quyền sở hữu thì các bên không cần phải công chứng hoặc chứng thực. Tuy nhiên, để nâng cao độ an toàn pháp lý, các bên có thể thỏa thuận cầm cố có công chứng hoặc chứng thực.
Đối tượng của cầm cố tài sản
Đối tượng của cầm cố tài sản là tài sản. Đối tượng của cầm cố tài sản được gọi là tài sản cầm cố.
Vậy tài sản cầm cố bao gồm những loại nào?
Tài sản cầm cố có thể là động sản hoặc bất động sản.
Tài sản cầm cố chỉ có thể là vật có sẵn vào thời điểm giao dịch cầm cố được xác lập. Giấy tờ có giá trị có thể là tài sản cầm cố nếu bản thân giấy tờ đó là một loại tài sản.
Tuy nhiên cũng cần phải đáp ứng một số điều kiện sau đây:
Thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố;
Là vật được phép chuyển giao trong giao dịch dân sự.
Chính vì thế ta có thể thấy nếu đối tượng cầm cố là bất động sản thì có thể gặp nhiều hạn chế.
Lưu ý: Nếu các bên giao kết hợp đồng mà đối tượng của cầm cố tài sản không đúng thì có thể dẫn đến hệ quả pháp lý như giao dịch bị tuyên vô hiệu. Như vậy sẽ rất bất lợi cho các bên trong quan hệ dân sự.
Hiệu lực và thời hạn của cầm cố tài sản
Hợp đồng cầm cố có hiệu lực đối với các bên trong hợp đồng từ thời điểm giao kết và có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố.
Trong trường hợp tài sản cầm cố là bất động sản và việc cầm cố được đăng ký giao dịch bảo đảm thì có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.
Thông thường thời hạn cầm cố tài sản do các bên thỏa thuận. Nếu không thì thời hạn cầm cố tài sản được tính từ thời điểm bên cầm cố nhận tài sản cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố.
Mọi người có thể tham khảo mẫu giấy, hợp đồng cầm cố tài sản TẠI ĐÂY.
Ví dụ cầm cố tài sản
A có một chiếc xe ô tô, đăng ký xe đứng tên A. A đang rất cần số tiền lớn để phục vụ nhu cầu nhưng hiện không có đủ nên đã mang chiếc xe ô tô mình đúng tên và đem cầm cố tại Ngân hàng B để vay số tiền là 1 tỷ.
Lúc này, A cầm cố chiếc xe ô tô bằng cách thức giao xe cho ngân hàng B để đảm bảo nếu A không có khả năng thanh toán khoản vay đúng hạn, thì bên ngân hàng có quyền lý tài sản này theo quy định của pháp luật hiện hành.
Như vậy, trong quan hệ dân sự này:
A là bên cầm cố
B là bên nhận cầm cố
Hai bên tự thỏa thuận số tiền vay, thời hạn trả nợ, lãi suất cũng như các quyền và nghĩa vụ giữa hai bên khi cầm cố tài sản là chiếc xe ô tô.
4. Vấn đề chung về cầm cố tài sản
Lần đầu tiên pháp luật quy định về biện pháp cầm cố tài sản vào năm 19891.
Từ khi có quy định về biện pháp bảo đảm từ năm 1989 đến nay, bất động sản luôn chỉ là đối tượng thế chấp. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 lại đề cập “trường hợp bất động sản là đối tượng của cầm cố theo quy định của luật”. Quy định này đã đi ngược lại toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từ năm 1989 đến nay, không cho phép cầm cố bất động sản. Việc cầm cố bất động sản chỉ được quy định trước hăm 1945 và được nhắc đến trong các văn bản sau đó, chẳng hạn như “Các ủy ban thị thực phải chịu trách nhiệm về việc thị thực không đúng về căn cước người đương sự, ngày tháng thị thực và quyền sở hữu trên bất động sản đem bán hay cầm cố”. Nếu cho phép cầm cố bất động sản, thì việc chuyển giao tài sản được hiểu khác với quy định hiện hành như thế nào và đặc biệt khi xử lý tài sản cầm cố và tài sản thế chấp là bất động sản khác nhau ra sao? Trong khi đó, tàu biển tuy là động sản, nhưng cũng chỉ được thế chấp, mà không được cầm cố theo quy định của hai Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005 và 20151.Trên thực tế cũng như quy định của các Luật Đất đai từ năm 1993 Luật Kinh doanh bất động sản từ năm 2005 và Luật Nhà ở từ năm 2005, chỉ có việc thế chấp bất động sản, vì không có quy định nào về việc cầm cố quyền sử dụng đất, bất động sản hay nhà ở.
Việc cầm cố tài sản là quyền đòi nợ cũng không phù hợp với khái niệm về cầm cố là “giao tài sản cho bên kia”. Hơn nữa, việc quản lý, xử lý tài sản cầm cố và mức độ rủi ro trong trường hợp này còn khó hơn đốì với tài sản thế chấp. Vì vậy, đúng ra phải gọi là thế chấp quyền đòi nợ, chứ không phải là cầm cố quyền đòi nợ, vì không đúng với bản chất của loại giao dịch cầm cố.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, các tài sản được cầm cố bao gồm: vật là động sản (gồm kim khí quý, đá quý; phương tiện vận tải; máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất; hàng hoá; nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu và động sản khác không bị hạn chế cầm cố theo quy định của pháp luật); tiền; giấy tờ có giá và số dư tiền gửi (trước gọi là thẻ tiết kiệm).Đồng thời, các tài sản không được sử dụng để cầm cố bao gồm: một số vật là động sản như phương tiện vận tải là tàu biển (vì pháp luật chỉ quy định việc thế chấp); vật là bất động sản (vì pháp luật hiện hành chỉ quy định vê' việc thế chấp, mà chưa quy định cụ thể về việc cầm cố quyền sử dụng đất, nhà ồ và tài sản khác gắn liền với đất); quyền tài sản và tài sản hình thành trong tương lai (vì không giao được tài sản cho bên cầm cố nắm giữ).
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định một số tài sản chỉ được cầm cố, một số tài sản chỉ được thế chấp, một số tài sản vừa được cầm cố vừa được thế chấp. Ngoài ra, vẫn có trường hợp không rõ ràng, như quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 về việc thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn có quyền “thế chấp, cầm cố” phần vốn góp của mình trong công ty.
Trường hợp tài sản cầm cố là vật có nguy cơ bị mất hoặc giảm sút giá trị thì bên nhận cầm cổ đang giữ tài sản đó phải thông báo cho bên cầm cố và yêu cầu bên cầm cố cho biết cách giải quyết trong thời hạn hợp lý; nếu hết thời hạn đó mà bên cầm cổ không trả lời thì bên nhận cầm cố thực hiện biện pháp cần thiết để ngăn chặn.Trường hợp tài sản cầm cố là vật do người thứ ba giữ mà có nguy cơ bị mất, hư hỏng, mất hoặc giảm sút giá trị thì quyền và nghĩa vụ giữa người thứ ba và bên nhận cầm cố được thực hiện theo hợp đồng gửi giữ tài sản. Các quy định này không áp dụng trong trường hợp vật cầm cố bị hao mòn tự nhiên.
Thời hạn hợp lý đốì với các biện pháp bảo đảm nói chung và trong trường hợp này nói riêng là khoảng thời gian được hình thành theo thói quen đã được xác lập giữa các bên hoặc là khoảng thời gian mà trong điều kiện bình thường, các bên trong hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm hoặc chủ thể khác có quyền, lợi ích liên quan có thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ của mình.
Trường hợp bên nhận cầm cố đồng ý hoặc luật liên quan có quy định về việc bên cầm cố được bán, thay thế, trao đổi hoặc tặng cho tài sản cầm cố thì biện pháp cầm cố chấm dứt kể từ thời điểm bên mua, bên nhận thay thế, bên nhận tặng cho tài sản xác lập quyền sở hữu đối với tài sản cầm cố theo quy định của luật, theo thỏa thuận của các bên hoặc thời điểm tài sản được chuyển giao.
5. Đặc điểm của cầm cố tài sản?
– Chủ thể của quan hệ cầm cố tài sản:
+ Chủ thể trong quan hệ cầm cố tài sản bao gồm bên nhận cầm cố và bên cầm cố;
+ Tuy nhiên có một chủ thể cần lưu ý: “Người thứ ba”.
Căn cứ tại Điều 310 của Bộ luật dân sự, có quy định về hiệu lực cầm có tài sản. Trong đó, cầm cố tài sản còn có hiệu lực với người thứ ba và hiệu lực này là hiệu lực đối kháng.
Hiệu lực đối kháng ở đây được hiểu là giá trị pháp lý đối với chủ thể thứ ba ngoài bên nhận cầm cố và bên cầm cố.
Ví dụ: A mang chiếc xe máy của mình đến cầm cố tài sản này cho B để lấy 50 triệu. A giao xe cho B, nhưng trước đó A đã có khoản vay với C và chiếc xe máy này C đã đi đăng ký làm tài sản bảo đảm trong hợp đồng thế chấp tài sản giữa A và C.
Như vậy, trong quan hệ dân sự C- người thứ ba và tài sản bảo đảm là chiếc xe máy, vẫn có giá trị pháp lý với C.
– Trong quan hệ dân sự- cầm cố tài sản đặc trưng cơ bản nhất chính là việc chuyển giao tài sản đảm bảo. Cụ thể bên cầm cố phải giao tài sản của mình cho bên nhận cầm cố quản lý trong một thời gian nhất định, do các bên thỏa thuận.
– Quyền và nghĩa vụ của các bên được quy định tại Điều 311 đến Điều 314 của Bộ luật Dân sự.