>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162
Trả lời:
1. Chấm dứt nghĩa vụ được quy định như thế nào?
Chấm dứt nghĩa vụ được hiểu là việc một người có nghĩa vụ phải giao một tài sản hoặc thực hiện công việc nhằm đáp ứng lợi ích cho bên có quyền sẽ không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Việc chấm dứt nghĩa vụ sẽ giải phóng cho bên có nghĩa vụ khỏi việc thực hiện nghĩa vụ mà không bị coi là vi phạm và không phải chịu bất cứ một chế tài nào. Nói cách khác, nghĩa vụ chấm dứt đồng nghĩa với việc chấm dứt một mối quan hệ pháp luật về nghĩa vụ giữa hai bên và lúc này bên có quyền sẽ không có quyền yêu cầu và bên có nghĩa vụ cũng không phải thực hiện nghĩa vụ.
Nghĩa vụ chấm dứt trong trường hợp sau đây:
- Nghĩa vụ được hoàn thành; Theo thỏa thuận của các bên; Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ; Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác; Nghĩa vụ được bù trừ; Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một; Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết; Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện; Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác; Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác; Trường hợp khác do luật quy định.
2. Căn cứ xác lập nghĩa vụ
Theo điều 275 Bô luật dân sự 2015 thì căn cứ xác định nghĩa vụ bao gồm :
Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:
- Hợp đồng.
- Hành vi pháp lý đơn phương.
- Thực hiện công việc không có ủy quyền.
- Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
- Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.
- Căn cứ khác do pháp luật quy định.
3. Trường hợp hoàn thành nghĩa vụ
Nghĩa vụ được hoàn thành khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hoặc thực hiện một phần nghĩa vụ nhưng phần còn lại được bên có quyền cho miễn thực hiện.
Hoàn thành nghĩa vụ trong trường hợp bên có quyền chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ. Nghĩa vụ cũng được coi là hoàn thành khi bên có nghĩa vụ thực hiện được một phần nghĩa vụ nhưng phần còn lại được bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ. Nếu đối tượng của nghĩa vụ là tài sản mà người có quyền chậm tiếp nhận thì nghĩa vụ cũng coi là hoàn thành khi bên có nghĩa vụ gửi giữ tài sản đó tại nơi nhận gửi giữ theo quy định của pháp luật. VD: trong trường hợp anh A cho anh B vay 300 triệu và hẹn là 18/05/2022 trả nợ. Đến đúng ngày 18/05/2022 thì anh anh đã trả hêt nợ vì vậy nghĩa vụ này được xem là đã hoàn thành nghĩa vụ.
Việc thể hiện ý chí của bên mang quyền trong quan hệ nghĩa vụ về việc không yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ. Quan hệ nghĩa vụ sẽ chấm dứt kể từ thời điểm người có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ.VD: Trong trường hợp anh A mua một đồ tại tiệm tạp hóa và nợ lại đó một số tiền nhưng do cuộc sống khó khăn nên anh A không cò khả năng để trả nợ và được tiệm tạp hóa đó bảo anh A không cần trả tiền nữa như vậy A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nữa.
Khi bên có quyền chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ là tài sản thì nghĩa vụ hoàn thành tại thời điểm tài sản đã được gửi giữ tại nơi nhận gửi giữ trường hợp chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ là tài sản thì bên có nghĩa vụ có thể gửi tài sản tại nơi nhận gửi giữ tài sản hoặc áp dụng biện pháp cần thiết khác để bảo quản tài sản và có quyền yêu cầu thanh toán chi phí hợp lý. Trường hợp tài sản được gửi giữ thì bên có nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền.
Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác. Ngược lại với căn cứ trên thì trong trường hợp này bên chấm dứt tư cách chủ thể lại là bên mang quyền. Trong trường hợp quyền yêu cầu gắn với nhân thân của cá nhân hoặc pháp nhân mà theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận của các bên khi cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt quyền yêu cầu đó không thể để lại thừa kế hoặc không thể chuyển giao thì quan hệ nghĩa vụ cũng chấm dứt.
Khi các bên có nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định thì phải giao đúng vật đó và khi vật đặc định không còn thì nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định sẽ chấm dứt. Tuy nhiên, trong trường hợp này các bên có thể thỏa thuận thay thế bằng nghĩa vụ khác. Nếu không thỏa thuận được thì bên có nghĩa vụ giao vật sẽ phải thanh toán giá trị của vật và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
4. Các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ
Các bên có thể thỏa thuận chấm dứt nghĩa vụ bất cứ lúc nào, nhưng không được gây thiệt hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Nghĩa vụ chấm dứt khi bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Khi nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm được miễn thì biện pháp bảo đảm cũng chấm dứt.
Chấm dứt nghĩa vụ do được thay thế bằng nghĩa vụ khác
Trường hợp các bên thỏa thuận thay thế nghĩa vụ ban đầu bằng nghĩa vụ khác thì nghĩa vụ ban đầu chấm dứt.
Nghĩa vụ cũng chấm dứt, nếu bên có quyền đã tiếp nhận tài sản hoặc công việc khác thay thế cho tài sản hoặc công việc đã thỏa thuận trước.
Trường hợp nghĩa vụ là nghĩa vụ cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các nghĩa vụ khác gắn liền với nhân thân không thể chuyển cho người khác được thì không được thay thế bằng nghĩa vụ khác.
Chấm dứt nghĩa vụ do bù trừ nghĩa vụ
Trường hợp các bên cùng có nghĩa vụ về tài sản cùng loại đối với nhau thì khi cùng đến hạn họ không phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhau và nghĩa vụ được xem là chấm dứt, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Trường hợp giá trị của tài sản hoặc công việc không tương đương với nhau thì các bên thanh toán cho nhau phần giá trị chênh lệch.
Những vật được định giá thành tiền cũng có thể bù trừ với nghĩa vụ trả tiền.
Chấm dứt nghĩa vụ do hòa nhập bên có nghĩa vụ và bên có quyền
Khi bên có nghĩa vụ trở thành bên có quyền đối với chính nghĩa vụ đó thì nghĩa vụ chấm dứt.
Chấm dứt nghĩa vụ do hết thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ
Khi thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết thì nghĩa vụ chấm dứt. Như vậy khi thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ kết thúc bên có nghĩa vụ được miễn thực hiện nghĩa vụ như vậy nghĩa vụ của người đó chấm dứt.
Chấm dứt nghĩa vụ khi bên có quyền là cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại
Khi các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về việc nghĩa vụ được thực hiện chỉ dành cho cá nhân hoặc pháp nhân là bên có quyền mà cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại thì nghĩa vụ cũng chấm dứt.
Chấm dứt nghĩa vụ khi vật đặc định không còn
Nghĩa vụ giao vật chấm dứt trong trường hợp vật phải giao là vật đặc định không còn.
Các bên có thể thỏa thuận thay thế vật khác hoặc bồi thường thiệt hại.
5. Những trường hợp không được bù trừ nghĩa vụ
Theo điều 379 Bộ luật dân sự 2015 thì quy định về các trường hợp không được bù trừ nghĩa vụ bao gồm :
Nghĩa vụ không được bù trừ trong trường hợp sau đây:
1. Nghĩa vụ đang có tranh chấp;
2. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín;
3. Nghĩa vụ cấp dưỡng;
4. Nghĩa vụ khác do luật quy định.
Như vậy, nghĩa vụ đang có tranh chấp là quan hệ nghĩa vụ đang có mâu thuẫn, bất đồng và có yêu cầu giải quyết của một trong các bên. Đối với loại nghĩa vụ này cần phải có một quyết định giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xác định chính xác quyền và nghĩa vụ của các bên. Hơn nữa, cần phải hiểu rộng, kể cả trong trường hợp đối tượng của nghĩa vụ đang có người thứ ba tranh chấp thì việc bù trừ nghĩa vụ cũng không thể thực hiện được bởi lẽ chưa xác định được chính xác chủ thế có quyền và nghĩa vụ đối với đối tượng thì việc bù trừ nghĩa vụ có thể sẽ ảnh hưởng tới quyền lợi của những người có liên quan đến tranh chấp đó.
Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín. Nghĩa vụ này là để giúp bù đắp tổn thất về vật chất mà còn bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại và thân nhân của họ.
Nghĩa vụ về tài sản gắn với nhân thân người phải cấp dưỡng và người được cấp dưỡng. Người trong mối quan hệ đặc biệt mới được pháp luật ghi nhận có mối quan hệ cấp dưỡng đối với nhau. Khi hưởng quyền cấp dưỡng cũng là để đảm bảo mức sống tối thiểu của người được cấp dưỡng.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.