1. Khái quát về cuộc đấu tranh cho quyền của người khuyết tật trên thế giới
Theo thống kê gần đây của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tổng số người khuyết tật trên thế giới vào khoảng 650 triệu, chiếm 10% dân số của nhân loại. Người khuyết tật được coi là một trong những nhóm thiểu số lớn nhất thế giới và cũng là một trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất, vì tình trạng khuyết tật khiến họ phải chịu những thiệt thòi trên tất cả phương diện của đời sống xã hội. Cụ thể, theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), mặc dù chỉ chiếm 10% tổng số nhân loại song, người khuyết tật chiếm tới 19% số người học vấn thấp và 20% số người nghèo trên thế giới. Theo báo cáo của UNESCO và ILO, 90% số trẻ em khuyết tật ở các nước đang phát triển không được đến trường; chỉ có 1/3 trong tổng số người khuyết tật đang ở độ tuổi lao động kiếm được việc làm; 30% thanh thiếu niên phải kiếm sống trên đường phố là do bị khuyết tật…
2. Nguy cơ bị vi phạm nghiêm trọng các quyền và nhân phẩm
Không những vậy, khuyết tật còn là nguyên nhân khiến nhiều người phải đối mặt với nguy cơ bị vi phạm nghiêm trọng các quyền và nhân phẩm. Ví dụ, một cuộc khảo sát ở Ấn Độ năm 2004 cho thấy, tất cả phụ nữ và trẻ em gái khuyết tật đã từng bị đánh đập ở nhà, 25% trong số họ đã từng bị hãm hiếp và 6% đã bị cưỡng bức triệt sản... Tương tự như đối với trẻ em, trong một thời kỳ dài, những người khuyết tật bị coi là đối tượng của lòng thương hại; việc bảo vệ, hỗ trợ họ chủ yếu dựa trên cách tiếp cận của tình thương và lòng nhân đạo, chứ không bắt nguồn từ nhận thức rằng họ cũng là những chủ thể của quyền và các nhà nước, cộng đồng, tổ chức, cá nhân khác là những chủ thể có nghĩa vụ phải tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền của người khuyết tật. Thực tế cho thấy, cách tiếp cận cũ không những không bảo đảm cho người khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền con người mà còn ngăn cản họ tham gia, hội nhập có hiệu quả vào đời sống xã hội. Chỉ sau những cuộc vận động kiên trì của các tổ chức, cá nhân hoạt động trên lĩnh vực nhân quyền, nhận thức rằng người khuyết tật cũng là chủ thể bình đẳng của các quyền con người mới dần dần chiếm ưu thế trên thế giới. Sự chuyển biến về nhận thức dẫn tới thay đổi cả cách gọi tên của nhóm xã hội này. Thay cho việc dùng từ những người tàn tật (disable persons) có hàm ý miệt thị và hạ thấp, hiện nay, nhóm xã hội này được gọi một cách chính xác và trân trọng là những người khuyết tật (persons with disabilities). Tên gọi mới, ngoài những yếu tố khác, mang hàm ý rõ ràng rằng đây là nhóm người tuy có những khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần, nhưng họ không phải và không được coi họ là những người vô dụng, đứng ngoài lề dòng chảy và là gánh nặng cho xã hội. Trên phương diện pháp lý, cho đến trước năm 2007, không có điều ước quốc tế nào quy định riêng về vấn đề quyền của người khuyết tật, thậm chí, không có những điều khoản riêng về quyền của người khuyết tật trong ICCPR và ICESCR (trong khi có các điều khoản về quyền của trẻ em, phụ nữ và người thiểu số trong hai công ước này). Duy nhất trong số các điều ước quốc tế về quyền con người trước năm 2007 có Công ước về quyền trẻ em (1989) đề cập việc bảo vệ quyền của trẻ em khuyết tật ( Điều 23).
3. Tất cả mọi người đều được hưởng các quyền con người một cách bình đẳng
Tuy nhiên, cần hiểu rằng Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người và các điều ước quốc tế trên lĩnh vực này đã khẳng định nguyên tắc tất cả mọi người đều được hưởng các quyền con người một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào dựa trên các cơ sở cụ thể như dân tộc, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, giới tính,v.v.."hoặc tình trạng khác", nên người khuyết tật rõ ràng cũng là chủ thể của các quyền con người. Theo Ủy ban về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, việc không có một điều ước riêng hay những điều khoản cụ thể liên quan đến vấn đề quyền của khuyết tật trong hai công ước quốc tế cơ bản về quyền con người năm 1966 là do nhận thức không đầy đủ về tầm quan trọng của vấn đề này chứ không phải là sự lãng quên các quyền con người của người khuyết tật. Nhận định này hoàn toàn đúng khi trên thực tế, từ đầu thập kỷ 80 thế kỷ XX, Liên hợp quốc đã thông qua khá nhiều văn kiện không ràng buộc pháp lý nhằm thúc đẩy vấn đề quyền của nhóm này, trong đó các văn kiện tiêu biểu bao gồm: Chương trình hành động thế giới về người tàn tật (1982); Các nguyên tắc về bảo vệ người bị bệnh tâm thần và về tăng cường chăm sóc sức khoẻ tâm thần (1991); Các quy tắc tiêu chuẩn về bình đẳng hoá cơ hội cho người khuyết tật (1993)... Ngoài ra, Liên hợp quốc đã lấy năm 1981 là “Năm quốc tế về người khuyết tật” và thông qua Chương trình Hành động thế giới về người khuyết tật vào năm 1982. Đặc biệt, năm 1993, trong Tuyên bố Viên và chương trình Hành động ( Đoạn 13), Hội nghị thế giới về quyền con người lần thứ II đã nêu rõ: “Tất cả các quyền con người và tự do cơ bản là mang tính phổ biến, bởi vậy tất cả mọi người, kể cả những người khuyết tật, đều là chủ thể bình đẳng của các quyền này”. Những nỗ lực quốc tế vận động cho việc thúc đẩy các quyền của người khuyết tật càng trở nên mạnh mẽ hơn khi bước vào thế kỷ XXI. Liên tiếp trong các năm 2004, 2005, Uỷ ban Quyền con người của Liên hợp quốc đã thông qua hai nghị quyết về quyền con người của người khuyết tật, trong đó thúc giục các quốc gia ngăn ngừa và cấm tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại những người khuyết tật, đồng thời thành lập một Uỷ ban lâm thời để soạn thảo một điều ước quốc tế về vấn đề này. Công ước về quyền của những người khuyết tật được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào tháng 3 năm 2007. Đây là điều ước quốc tế đầu tiên về quyền con người của Liên hợp quốc trong th ế kỷ XXI, đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đấu tranh cho quyền của những người khuyết tật trên thế giới.
4. Các định nghĩa quan trọng
Công ước nêu ra bốn định nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc thống nhất nhận thức về người khuyết tật: - “Người khuyết tật”: Theo Điều 1 Công ước, người khuyết tật được hiểu là “những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. Mặc dù vẫn còn những quan điểm khác nhau về những thuộc tính cấu thành khái niệm “người khuyết tật”, tuy nhiên, đây là lần đầu tiên có một định nghĩa về “người khuyết tật” được xác định trong luật nhân quyền quốc tế. Điều này có ý nghĩa lớn trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền của người khuyết tật. - “ Sự phân biệt đối xử trên cơ sở sự khuyết tật”: Theo Điều 2 Công ước, phân biệt đối xử trên cơ sở sự khuyết tật có nghĩa là mọi sự phân biệt, loại trừ hoặc hạn chế trên cơ sở sự khuyết tật có mục đích hoặc ảnh hưởng gây tổn hại hoặc vô hiệu hóa sự công nhận, thụ hưởng hoặc thực hiện các quyền và tự do cơ bản của con người trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự hoặc bất kỳ lĩnh vực nào khác. Cũng theo Điều 2, khái niệm này bao gồm mọi hình th ức phân biệt đối xử, trong đó có việc t ừ ch ối th ực hiện nh ững “s ự điều chỉnh h ợp lý” khi th ực hiện các quyền của người khuyết tật. Có thể thấy cấu trúc nội dung của khái niệm này về cơ bản giống với các khái niệm phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong CEDAW và phân biệt đối xử về chủng tộc trong Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc của Liên hợp quốc, chỉ khác nhau về yếu tố là cơ sở của sự phân biệt đối xử và chủ thể bị phân biệt đối xử. - “Sự điều chỉnh hợp lý” được hiểu là những thay đổi hoặc chỉnh sửa cần thiết để bảo đảm cho người khuyết tật hưởng hoặc thực hiện các quyền và tự do cơ bản của con người trên cơ sở bình đẳng với những người khác. - “Thiết kế phổ dụng” có nghĩa là thiết kế sản phẩm, môi trường, chương trình và dịch vụ để mọi người, trong đó có người khuyết tật, đều có thể sử dụng mà không cần cải tạo lại hoặc thiết kế chuyên biệt.
5. Các nguyên tắc của Công ước
Điều 3 đề cập các nguyên tắc chỉ đạo của Công ước, trong đó bao gồm: (i) Tôn trọng nhân phẩm, quyền tự chủ và sự độc lập của cá nhân; (ii) Không phân biệt đối xử; (iii) Tham gia và hòa nhập trọn vẹn và hữu hiệu vào xã hội; (iv) Tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận người khuyết tật là bộ phận của nhân loại có tính đa dạng; (v) Bình đẳng về cơ hội; (vi) Dễ tiếp cận; (vii) Bình đẳng giữa nam và nữ; (viii) Tôn trọng khả năng phát triển của trẻ em khuyết tật và tôn trọng quyền của trẻ em khuyết tật được giữ gìn bản sắc của mình. Nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử với người khuyết tật còn được quy định cụ thể trong Điều 5 của Công ước. Điều này yêu cầu các quốc gia thành viên thực thi những biện pháp thích hợp để ngăn cấm mọi sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở khuyết tật và bảo vệ một cách có hiệu quả những người khuyết tật khỏi mọi hình thức phân biệt đối xử. Theo Điều này, việc thúc đẩy sự bình đẳng, không phân biệt đối xử với người khuyết tật phải được thực hiện thông qua những “sự điều chỉnh hợp lý”, và các biện pháp để thúc đẩy sự bình đẳng với người khuyết tật sẽ không bị coi là phân biệt đối xử với những người bình thường. Những nguyên tắc kể trên rõ ràng đã được xây dựng trên cơ sở tính đến những nhu cầu đặc thù của người khuyết tật. Bên cạnh các nguyên tắc cơ bản phổ biến trong các điều ước quốc tế về quyền con người là tôn trọng nhân phẩm, không phân biệt đối xử và bình đẳng nam nữ, các nguyên tắc còn lại đều xuất phát nhằm bù đắp cho những hạn chế, thiệt thòi của người khuyết tật.