1. Quyền miến trừ của tài sản quốc gia

Vấn đề quy chế pháp lý của tài sản quốc gia trong quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài gắn bó rất chặt chẽ với vấn đề quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đốì của quốc gia. Trên thực tế, hai trong số’ ba nội dung của quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đội của các quốc gia trực tiếp đụng đến tài sản của quốc gia, bồi vì, thông thường để bảo đảm sơ bộ đối với đơn kiện cũng như bảo đảm thi hành các bản án, các toà án thực hiện sai áp đôì vói những tài sản nhất định của bên bị đơn trong tranh chấp dân sự.

Tài sản của quốc gia được chia thành bốn nhóm: Nhóm thứ nhất gồm các tài sản của quốc gia ở trên lãnh thổ của chính quốc gia và do các cơ quan của quốc gia trực tiếp quản lý; Nhóm thứ hai, gồm các tài sản của quốc gia ở nước ngoài do các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của quốc gia ở nước ngoài trực tiếp quản lý; Nhóm thứ ba, gồm những tài sản mà quốc gia mới hình thành tiếp quản của chính quyền cũ do kế thừa và các tài sản của các tổ chức, cá nhân bị quốc hữu hoá, nhưng tồn tại ở nước ngoài vào thòi điểm tiến hành quốc hữu hoá; Nhóm thứ tư, gồm các tài sản quốc gia giao cho các doanh nghiệp nhà nước của mình quản lý, sử dụng phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật.

 

2. Quy chế pháp lý của nhóm tài sản thứ nhất

Mặc dù chưa có điều ước quốc tế nào quy định cụ thể, nhưng về mặt lý luận pháp lý quốc tế cũng như thực tiễn quốc tế, nhóm tài sần thứ nhất bao gồm những loại tài sản cụ thể nào, được hưỏng quyền bất khả xâm phạm hay không phải do pháp luật của chính quốc gia sỏ hữu chủ quy định. Việc quản lý, sử dụng loại tài sản này cũng do pháp luật của quốc gia sở hữu chủ quy định. Kết luận này được rút ra từ nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, tôn trọng sự hình đắng chủ quyền giữa các quốc gia và các nguyên tắc cơ bản khác của công pháp quốc tế cũng như các nguyên tắc cơ bản của tư pháp quốc tế.

 

3. Quy chế pháp lý của nhóm tài sản thứ hai

Nhóm tài sản thứ hai của quốc gia thường bao gồm: Trụ ’ sở của các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của quốc gia ỏ nưốc ngoài; các tài sản như hồ sơ tư liệu, trang thiết bị, phương tiện giao thông, v.v. do các cơ quan này quản lý, được hưởng quyền bất khả xâm phạm theo quy định của các điều ước quốc tế.

Ví dụ, Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao (Điều 22) quy định:

- Trụ sỏ của cơ quan đại diện ngoại giao là bất khả xâm phạm. Chính quyền nước tiếp nhận không được phép vào nơi đó nếu không có sự đồng ý của người đứng đầu cơ quan đại diện.

- Nưốc tiếp nhận có nghĩa vụ đặc biệt thi hành mọi biện pháp thích đáng để ngăn chặn việc xâm nhập, làm hư hại trụ sở của cơ quan đại diện, việc phá rối sự yên tĩnh hoặc làm tổn hại đến phẩm cách của cơ quan đại diện.

- Trụ sở của cơ quan đại diện, đồ đạc và tài sản khác ỏ trong đó cũng như các phương tiện giao thông của cơ quan đại diện không thể bị lục soát, trưng dụng, tịch thu hoặc dùng bảo đảm thi hành án.

Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao còn quy định thêm rằng, giấy tờ, hồ sơ và tư liệu của cơ quan đại diện là bất khả xâm phạm bất cứ vào lúc nào và bất kỳ ở đâu (Điều 24); thư tín của cơ quan đại diện là bất khả xâm phạm, túi thư ngoại giao không thể bị mở hoặc giữ lại (Điều 27); nếu quan hệ ngoại giao bị cắt đứt giữa hai nước hoặc cơ quan đại diện được rút về hẳn hoặc tạm thời, ngay cả trong trường hợp có xung đột vũ trang, thì nước tiếp nhận vẫn phải tôn trọng và bảo vệ trụ sở cùng với tài sản và hồ sơ của cơ quan đại diện (Điều 45).

Tài sản quốc gia thuộc quyền quản lý của cơ quan đại diện của quôc gia bên cạnh các tổ chức quốc tế liên chính phủcũng được hưởng quy chế pháp lý tương tự như quy chế pháp lý của tài sản thuộc quyền quản lý của cơ quan đại diện ngoại giao ỏ nưốc ngoài.

Tài sản quốc gia thuộc quyền quản lý của cơ quan lãnh sự ỏ nước ngoài cũng được hưởng quyền bất khả xâm phạm, nhưng mức độ cụ thể của quyền này hẹp hơn quyền bất khả xâm phạm của tài sản thuộc quyền quản lý của cơ quan đại diện ngoại giao ồ nước ngoài. Sự khác nhau thể hiện ồ chỗ, trụ sở , đồ đạc, tài sản khác và phương tiện đi lại của cơ quan đại diện ngoại giao không thể bị trưng dụng vào mục đích công cộng hoặc quốc phòng, nhưng nếu là của cơ quan lãnh sự thì điều đó có thể xảy ra với những điều kiện nhất định quy định tại Công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự.

Một mặt, các điều ước quốc tế khẳng định sự bất khả xâm phạm của các tài sản do các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước ngoài quản lý, mặt khác, cũng khẳng định không được sử dụng nhà cửa và các tài sản khác của các cơ quan này vào những mục đích không phù hợp vối chức năng của cơ quan mà các điều ước quốc tế đã quy định.

Ngày nay, tất cả các quốc gia, kể cả các quốc gia chưa tham gia các công ước về quan hệ ngoại giao và quan hệ lãnh sự đều thừa nhận quy chế bất khả xâm phạm của loại tài sận do các cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan lãnh sự của nưốc ngoài quản lý. Trong khoa học pháp lý không có nhà lý luận nào bác bỏ hoặc đặt vấn đề xem xét lại quy chế bất khả xâm phạm của loại tài sản này. Tuy nhiên chúng ta cần lưu ý rằng, việc công nhận quy chế bất khả xâm phạm của loại tài sản này cũng như công nhận việc dành các quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao cho các viên chức ngoại giao nước ngoài xuất phát trước hết từ luận thuyết về sự cần thiết chức năng, tạo điều kiện cho các viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự của nưốc ngoài thực hiện chức năng nhiệm vụ đại diện cho quốc gia đã cử mình sang nưóc sở tại. Tuy nhiên, có thể nói rằng, không thể phủ nhận luận thuyết sự cần thiết chức năng, nhưng cái gốc, cái cơ sỏ đầu tiên để khẳng định loại tài sản này của quốc gia ỏ nưốc ngoài được hưởng quyền bất khả xâm phạm và hưởng quyền bất khả xâm phạm mức nào phải dựa trên chủ yếu nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia và tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đốỉ của quốc gia trong sinh hoạt quốc tế. 

 

4. Quy chế pháp lý của nhóm tài sản thứ ba

Vấn đề quý chế pháp lý của các tài sản mà quốc gia kế thừa chỉ đặt ra trong trưòng hợp một quốc gia mới hình thành do thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội, hoặc do phân tách một quốc gia cũ thành hai haỵ nhiều quốc gia mới, hợp nhất các quốc gia cũ thành một quốc gia mối. Vấn đề này cũng được đặt ra trong trường hợp chuyển dịch một bộ phận lãnh thổ từ quốc gia này sang quốc gia khác.

Pháp luật vă thực tiễn quốc tế thừa nhận quyền kế thừa của quốc gia trong các trường hợp nêu trên. Và đương .nhiên các tài sạn do quốc gia kế thừa phải thuộc quyền sở hữu của quốc gia đó. Về mặt lý luận, loại tài sản này phải được hưỏng quy chế bất khả xâm phạm. Các quốc gia, nơi tồn tại của những tài sản này, có trách nhiệm tôn trọng và giúp cho quốc gia kế thừa thu hồi và quản lý những tài sản này. Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam, Nhà nước ta đã thu hồi tất cả các tài sản do chế độ Sài Gòn để lại ỏ mtóc ngoài. Hầu hết các nước đã tôn trọng quyền số hữu của Nhà nước ta và giúp 

ta thu hồi các tài sản của chế độ Sài Gòn tồn tại trên lầnh thổ của họ. Một số’ nước có thái độ thù địch vối Nhà nước ta thì phong toả, nhưng cuối cùng cũng giao lại những tài sản đó cho nhà nước ta saụ khi hai bên 'bình thường hoá quan hệ.

Riêng các tài sản của các tổ chức, cá nhân bị quốc hữu rhoá và trỏ thành tài sản thuộc quyền sỗ hữu của quốc gia tiến hành quốc hữu hoá, thì thực tiễn có phức tạp hơn. về mặt lý luận, quốc hữu hoá là một biện pháp kinh tế - xã hội, là vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia của quốc gia tiến hành quốc hữu hoá. Vì vậy, việc quốc hữu hoá phải được tất cả các quốc gia cũng như các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tôn trọng. Quốc gia tiến hành quốc hữu hoá tự quyết định quốc hữu hoá có bồi thường hoặc không có bồi thường; nếu có bồi thường thi mức độ và phương thức bồi thường ra sao. Vấn đề này cũng có thể được quy định trong các đỉều ước quốc tế mà quốc gia tiến hành quốc hữu hoá ký kết với các quốc gia có hên quan.

Do quốc hữu hoá mà những tài sản nhất định, những nghiệp nhất định, thậm chí cả một ngành hay từng bộ phận của cả ngành kinh tế thuộc quyền sở hữu của các tổ chức, cá nhân trỏ thành tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia. Một khi đã trở thành tài sản của quốc gia theo quy định của pháp luật quốc gia, thì tài sản đó được hưởng quy chế pháp lý đặc biệt - được miễn trừ tư pháp, trừ trường hợp pháp luật của quốc gia tiến hành quốc hữu hoá có quy định khác.

Thực tiễn tư pháp quốc tế trong vấn đề liên quan đến tài sản bị quốc hữu hoá rất phức tạp. Những năm trưởc đây. đã xảy ra những trường hợp các toà án của các nưốc phương Tây không tôn trọng quy chế bất khả xâm phạm của loại tài sản này của các nước xã hội chủ nghĩa và các nước đang phát triển có đường lối chính sách đối nội và đối ngoại độc lập.

Tóm lại, tài sản của quốc gia, dù quốc gia thủ đắc do kế thừa các quốc gia khác hay do thực hiện các biện pháp quốc hữu hoá, khi tồn tại trên lãnh thổ nước ngoài đều được hưởng quyền bất khả xâm phạm, cụ thể là không ai được chiếm đoạt hay xâm phạm bằng bất cứ hình thức nào và bằng biện pháp gì; những tài sản này của quốc gia không thể bị bắt giữ, tịch biên, tịch thu, bắt bán đấu giá v.v..., trừ khi bản thân nhà nưổc chủ sở hữu công khai và chính thức từ bỏ quyền bất khả xâm phạm đó đôì với những tài sản nhất định của mình.

 

5. Quy chế pháp lý của nhóm tài sản thứ tư

Nhóm tài sản thứ tư có được hưởng quy chế bất khả xâm phạm hay không là vấn đề phải bàn luận. Điểm đặc biệt cần lưu ý ở đây là loại tài sản này tuy thuộc quyền sở hữu của quốc gia, nhưng lại được giao cho các tổ chức có tư cách pháp nhân quản lý, sử dụng vào mục đích kinh doanh. Các luật gia của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và cả các luật gia Việt Nam đều cho rằng loại tài sản này không được hưởng quyền bất khả xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật quốc gia có quy định khác, sở dĩ như vậy là vì, như đã trình bày ở mục II của chương này, về mặt lý luận, khi nhà nước, đã giao cho doanh nghiệp quản lý, sử dụng phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và pháp luật của quốc gia đã khẳng định doanh nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập, tự hạch toán, tự chịu trách nhiệm dân sự trong phạm vi tài sản tự có hoặc được giao quản lý.

Pháp luật Việt Nam cũng đã khẳng định rằng tài sản của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hưởng quyền miễn trừ tư pháp, nhưng nếu dùng vào mục đích kinh doanh thì không hưởng quyền miễn trừ tư pháp, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác (Điều 9 của Nghị định số 60/CP ngày 6-6-1997 hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nưốc ngoài). Đây là quy định rất quan trọng nhằm khắc phục tâm lý băn khoăn, lo ngại của các tổ chức, cá nhân nước ngoài trong quan hệ kinh tế, thương mại, với các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam.

Như vậy, các tổ chức cá nhân nước ngoài có thể hoàn toàn yên tâm khi tham gia vào quan hệ dân sự vối các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam vì họ hoàn toàn bình đẳng với doanh nghiệp nhà nưốc Việt Nam trước pháp luật. Nhà nước Việt Nam không can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp; các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoàn toàn có quyền kiện các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam tại các toà án theo quy định của pháp luật; toà án có quyền áp dụng biện pháp sai áp đối vối tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp nhà nước để bảo đảm đơn kiện hoặc bảo đảm thi hành quyết định của toà án, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác.

Vấn đề còn lại cần làm rõ là các trưòng hợp có quy định khác nêu trên. Trong thực tiễn tư pháp quốc tế đã từng có những trường hợp quốc gia tự quy định hoặc thoả thuận vối quốc gia khác để quy định một số loại tài sản của quốc gia tuy đã giao cho các doanh nghiệp nhà nước để quản lý và phục vụ mục đích kinh doanh, nhưng khẳng định vẫn được hưỏng quyền bất khả xâm phạm. Ví dụ, Điều 20 của Bộ Luật Hàng hải của Liên Xô trước đây quy định các tầu biển thuộc quyền sở hữu của Liên Xô không thể bị bắt giữ hay bị sai áp nếu không có sự đồng ý của Hội đồng Bộ trưỏng Liên Xô; Điều 2 của Nghị định thư năm 1974 về thi hành Hiệp định hàng hải Liên Xô - Vương quốc Anh năm 1968 quy định tầu biển và hàng hoá thuộc quyền sở hữu của quốc gia ký kết này không bị bắt hoặc bị giữ nhằm bảo đảm thi hành quyết định toà án của quốc gia ký kết kia, nhưng trong trường hợp này quốc gia chủ sở hữu sẽ áp dụng các biện pháp hành chính để bảo đảm thi hành quyết định đó của toà án.

Và như vậy, nếu pháp luật Việt Nam có quy định ngoại lệ đốỉ vối một số tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước Việt Nam, nhưng được giao cho các doanh nghiệp nhà nước quản lý, kinh doanh thì không có gì bất bình thường và hoàn toàn có thể chấp nhận được.

Luật Minh Khuê ( sư tầm và biên tập )