1. Quyền miễn trừ quốc gia trong tư pháp quốc tế Việt Nam

Đối với Việt Nam, khi mà Tư pháp quốc tế chưa phát triển cả về lý luận lẫn thực tiễn, thì việc tiếp tục nghiên cứu và phát triển cả về lý luận lẫn quy định của pháp luật về quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế có ý nghĩa rất quan trọng trong việc góp phần đưa Tư pháp quốc tế Việt Nam tiến gần hơn các chuẩn mực pháp lý chung của thế giới.

1.1. Nội dung quyền miễn trừ của quốc gia trong Tư pháp quốc tế

Nhìn chung, Tư pháp quốc tế (TPQT) phần lớn các quốc gia đều thừa nhận tư cách chủ thể đặc biệt của quốc gia khi tham gia vào mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Khi tham gia vào quan hệ TPQT, quốc gia được hưởng các quyền miễn trừ trong đó quan trọng nhất là quyền miễn trừ tư pháp và miễn trừ đối với tài sản của quốc gia, gọi chung là quyền miễn trừ của quốc gia. Quyền miễn trừ của quốc gia trong lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được ghi nhận rải rác trong các điều ước quốc tế, điển hình nhất là Công ước Brussels về thống nhất các quy định về miễn trừ tàu thuyền nhà nước ngày 14/4/1926, Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự,… Đặc biệt, các nội dung này được quy định một cách cụ thể và tập trung tại Công ước của Liên hiệp quốc (LHQ) về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia. Các quyền này cũng được ghi nhận trong pháp luật của nhiều quốc gia.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.0159

Quyền miễn trừ của quốc gia trong TPQT gồm quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia.

1.2 Quyền miễn trừ tư pháp:

Miễn trừ xét xử tại bất cứ Tòa án nào. Nội dung quyền này thể hiện nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không có một tòa án nước ngoài nào có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ kiện mà quốc gia là bị đơn (trong lĩnh vực dân sự). Các tranh chấp liên quan đến quốc gia phải được giải quyết bằng con đường thương lượng trực tiếp hoặc con đường ngoại giao, trừ khi quốc gia từ bỏ quyền này. Điều 5 và Điều 6 Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: Quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tài phán trước một tòa án nước ngoài theo những quy định của Công ước. Các quốc gia có nghĩa vụ đảm bảo quyền miễn trừ tài phán và quyền miễn trừ tài sản của quốc gia khác, cụ thể là không thực thi quyền tài phán chống lại quốc gia khác trong một vụ kiện tại tòa án nước mình.

Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo đơn kiện, nếu quốc gia đồng ý cho tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện mình, tức là đồng ý cho Tòa án nước ngoài xét xử vụ kiện mà quốc gia là bị đơn. Nội dung của quyền này thể hiện trong trường hợp nếu một quốc gia đồng ý để tòa án nước ngoài thụ lý, giải quyết một vụ tranh chấp mà quốc gia là một bên tham gia thì tòa án nước ngoài đó được quyền xét xử nhưng tòa án không được áp dụng bất cứ một biện pháp cưỡng chế nào như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia để phục vụ cho việc xét xử. Tòa án chỉ được áp dụng các biện pháp này nếu được quốc gia cho phép. Điều 18 Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: “Không có biện pháp cưỡng chế tiền tố tụng nào như tịch thu, chiếm giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được áp dụng trong một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài…”.

Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo thi hành quyết định của Tòa án trong trường hợp quốc gia không đồng ý cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện, đồng ý cho Tòa án xét xử. Trong trường hợp quốc gia đồng ý cho một tòa án nước ngoài giải quyết một tranh chấp mà quốc gia là một bên tham gia và nếu quốc gia là bên thua kiện thì bản án của tòa án nước ngoài đó cũng phải được quốc gia tự nguyện thi hành. Nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia nhằm cưỡng chế thi hành bản án đó. Ngay cả khi quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ xét xử thì quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành phán quyết của tòa án vẫn phải được tôn trọng. Điều 19 Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: “Không có biện pháp cưỡng chế nào sau khi có phán quyết của tòa án như tịch thu, bắt giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được áp dụng trong một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài…”

1.3 Quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia:

Quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của quốc gia là một trong những nội dung quan trọng của quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế. Nội dung của quyền này là những tài sản được xác định thuộc quyền sở hữu của quốc gia thì không thể là đối tượng áp dụng các biện pháp tư pháp khi quốc gia đưa vào tham gia các quan hệ dân sự quốc tế. Quyền miễn trừ về tài sản của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế có cơ sở pháp lý vững chắc trong các điều ước quốc tế có liên quan của TPQT cũng như văn bản pháp luật thực định của nhiều quốc gia. Điều 21 Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia liệt kê những loại tài sản mà quốc gia được hưởng quyền miễn trừ.

Quyền miễn trừ tài sản của quốc gia cũng được pháp luật của rất nhiều nước quy định. Luật miễn trừ nhà nước của Hoa Kỳ tại Điều 1609 cũng khẳng định quyền miễn trừ đối với tài sản của quốc gia nước ngoài. Pháp luật của Cộng hòa Liên bang Nga, của Vương quốc Anh cũng khẳng định quyền này.

Quyền miễn trừ về tài sản là một nội dung không thể tách rời của quyền miễn trừ của quốc gia và ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình trong việc bảo vệ hữu hiệu lợi ích của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế. Tuy nhiên, lý luận về TPQT của Việt Nam trước đây không đề cập hoặc đề cập rất chung về nội dung này. Các giáo trình TPQT dùng giảng dạy trong các trường đại học, các công trình nghiên cứu cũng đề cập đến nội dung này một cách chung chung hoặc gần như không nói đến. Đây là một hạn chế về mặt lý luận của TPQT Việt Nam cần phải nhanh chóng khắc phục để đưa TPQT Việt Nam phát triển theo xu thế của thời đại.

Các nội dung của quyền miễn trừ của quốc gia tồn tại trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau và đều được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia. Tuy nhiên, giữa các quyền vẫn có sự độc lập tương đối và quốc gia có quyền từ bỏ một nội dung, hai nội dung hay tất cả các nội dung trong quyền miễn trừ. Việc quốc gia từ bỏ một nội dung không làm ảnh hưởng đến các nội dung còn lại trong quyền miễn trừ. Việc từ bỏ quyền miễn trừ của quốc gia cần phải được thể hiện rõ ràng trong pháp luật quốc gia, trong điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên hoặc trong các văn bản cụ thể mà quốc gia ký kết.

1.4. Các quan điểm khác nhau về quyền miễn trừ của quốc gia

Quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế đã được thừa nhận trong pháp luật quốc tế (các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế) và pháp luật hầu hết các nước. Tuy nhiên, pháp luật của các nước lại có những quan điểm khác nhau về mức độ hưởng quyền này của quốc gia. Về cơ bản có hai quan điểm chính về vấn đề này:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền miễn trừ của quốc gia là tuyệt đối, nghĩa là quốc gia phải được hưởng quyền này trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự mà quốc gia tham gia và trong bất kỳ trường hợp nào. Những người theo quan điểm này xuất phát từ chủ quyền quốc gia là tuyệt đối và bất khả xâm phạm, bất kỳ chủ thể nào cũng không có quyền vượt lên trên chủ quyn quốc gia. Thậm chí, quyền miễn trừ này còn được mở rộng cho người đứng đầu của quốc gia khi tham gia vào các mối quan hệ với tư cách người đứng đầu quốc gia hay tư cách cá nhân. Cần nhận thức rõ vấn đề ở đây, khi thừa nhận quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế là tuyệt đối thì điều này có nghĩa là quốc gia sẽ được hưởng quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự quốc tế và trong tất cả các trường hợp mà quốc gia tham gia với tư cách là một bên chủ thể trong quan hệ dân sự quốc tế.

Thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối của quốc gia trong quan hệ quốc tế đã được thừa nhận rộng rãi từ lâu như một tập quán quốc tế. Cho đến giữa thế kỷ XX, phần lớn các nước vẫn còn công nhận quyền miễn trừ tuyệt đối dành cho quốc gia nước ngoài. Tuy nhiên, từ sau Cách mạng tháng 10 Nga, đặc biệt là từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2, với sự xuất hiện của hàng loạt các quốc gia theo chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa (XHCN), một mô hình kinh tế mới ra đời mà ở đó, nhà nước trực tiếp tham gia vào các quan hệ kinh tế với tư cách là một bên chủ thể, các công ty nhà nước nắm độc quyền kinh doanh trong nền kinh tế, thì một vấn đề đặt ra là liệu các công ty nhà nước này có được hưởng quyền miễn trừ của quốc gia sở hữu nó hay không khi tham gia vào các quan hệ kinh tế thương mại với các chủ thể nước ngoài. Chính thực tiễn này đã dẫn đến sự xuất hiện của Thuyết quyền miễn trừ tương đối hay còn gọi là “Quyền miễn trừ chức năng”.

Thuyết quyền miễn trừ tương đối do các học giả của các nước theo chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa khởi xướng và xây dựng nhằm loại trừ khả năng hưởng quyền miễn trừ của các công ty thuộc sở hữu nhà nước của các nước theo chế độ chính trị XHCN khi tham gia vào các quan hệ kinh tế thương mại quốc tế. Học thuyết này nhanh chóng được các nước khác ủng hộ và cụ thể hóa vào các đạo luật quốc gia. Theo học thuyết này, quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế sẽ được hưởng quyền miễn trừ về tài phán và quyền miễn trừ về tài sản trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự. Tuy nhiên, có những trường hợp quốc gia sẽ không được hưởng quyền này mà phải tham gia với tư cách một chủ thể dân sự như các chủ thể thông thường khác. Như vậy, Thuyết quyền miễn trừ tương đối chấp nhận cho quốc gia được hưởng quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự mà quốc gia tham gia, nhưng lại hạn chế những trường hợp mà quốc gia sẽ không được hưởng quyền miễn trừ. Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia cũng dành nhiều điều quy định về các trường hợp quốc gia không được hưởng quyền miễn trừ trong các lĩnh vực giao dịch thương mại, hợp đồng lao động, thiệt hại về người và tài sản,…

Tại Hoa Kỳ, từ năm 1952 đã bắt đầu thay đổi quan điểm quyền miễn trừ quốc gia từ thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối sang thuyết quyền miễn trừ tương đối. Năm 1976, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua Luật Miễn trừ nhà nước dành cho quốc gia nước ngoài. Đạo luật này chính là sự hiện thực hóa Thuyết quyền miễn trừ tương đối mà Hoa Kỳ đang theo đuổi. Trong đạo luật đã có những quy định cụ thể về quyền miễn trừ của quốc gia: chủ thể được hưởng quyền miễn trừ, nội dung quyền miễn trừ, các trường hợp quốc gia nước ngoài không được hưởng quyền miễn trừ,…

Tại Anh, Luật về Quyền miễn trừ của quốc gia năm 1978 cũng ghi nhận quan điểm này. Quan điểm này còn được ghi nhận trong thực tiễn xét xử ở tòa án Áo, Pháp, Thụy Điển, Ý, Hy Lạp, Bỉ.

Như vậy, về cơ bản, phần lớn các quốc gia đều thừa nhận quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế. Tuy nhiên, mức độ chấp nhận phạm vi của quyền miễn trừ của quốc gia ở các quốc gia là khác nhau. Thực tiễn trên cho thấy, Thuyết quyền miễn trừ tương đối của quốc gia đang có phạm vi ảnh hưởng ngày càng rộng và ngày càng có nhiều quốc gia chấp nhận. Đây cũng là một xu thế phát triển của TPQT hiện đại.

1.5. Quyền miễn trừ của quốc gia trong Tư pháp quốc tế Việt Nam

Qua phân tích vấn đề cho thấy xu thế phát triển của TPQT là chấp nhận quyền miễn trừ của quốc gia với nội dung gồm quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc sở hữu của quốc gia ở nước ngoài và chấp nhận thuyết quyền miễn trừ tương đối của quốc gia. TPQT Việt Nam chưa phát triển cả về lý luận lẫn pháp luật thực định. Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách nghiêm túc các vấn đề có liên quan đến quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào quan hệ dân sự quốc tế là một việc hoàn toàn cần thiết bởi đây là một trong những nội dung chủ yếu của quy chế pháp lý về chủ thể của TPQT. Chúng tôi chỉ đề cập đến quyền miễn trừ của nhà nước nước ngoài tại Việt Nam mà không đề cập đến quyền miễn trừ của nhà nước Việt Nam ở nước ngoài.

Trước hết, cần làm rõ nội dung của quyền miễn trừ của quốc gia cả trong lý luận lẫn quy định của các quy phạm pháp luật TPQT Việt Nam. Đây là điều cần thiết bởi vì cả về mặt lý luận lẫn pháp luật thực định, cho đến hiện nay, nội dung quyền miễn trừ của quốc gia vẫn chưa được thống nhất. Tại Việt Nam hiện nay, về mặt lý luận, có nhiều quan điểm khác nhau đã được đưa ra về nội dung quyền miễn trừ quốc gia.

Quan điểm thứ nhất xác định quyền miễn trừ của quốc gia bao gồm quyền miễn trừ xét xử, quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo đơn kiện, quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành phán quyết của tòa án nước ngoài. Như vậy, quyền miễn trừ đối với tài sản quốc gia ở nước ngoài không được đưa vào xem xét trong nội dung quyền miễn trừ của quốc gia. Theo chúng tôi, quan điểm này khó chấp nhận được, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi quốc gia tham gia ngày càng nhiều vào các mối quan hệ dân sự, kinh tế quốc tế, bởi trong những trường hợp nhất định, lợi ích hợp pháp liên quan đến tài sản của quốc gia ở nước ngoài sẽ không được bảo vệ hữu hiệu.

Quan điểm thứ hai khẳng định quyền miễn trừ tài sản thuộc sở hữu quốc gia là một trong những nội dung cơ bản của quyền miễn trừ quốc gia. Quan điểm này được nhiều người tán đồng. Theo chúng tôi, không thể tách rời quyền miễn trừ về tài sản ra khỏi quyền miễn trừ của quốc gia bởi vì quốc gia tham gia vào đời sống dân sự quốc tế chủ yếu là các quan hệ liên quan đến tài sản (ví dụ: các tài sản đầu tư ở nước ngoài, tài khoản tại ngân hàng nước ngoài…). Những mối quan hệ quốc gia tham gia mà không liên quan đến yếu tố tài sản chủ yếu thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật quốc tế công. Thực tiễn cũng cho thấy, ngày nay quốc gia đóng vai trò ngày càng quan trọng trong hoạt động kinh tế thương mại của quốc gia thông qua hàng loạt các hoạt động như xúc tiến thương mại, đầu tư, làm trung gian cho các pháp nhân của các quốc gia ký kết hợp đồng, bảo lãnh,… Tất cả những hoạt động này đều kéo theo các vấn đề pháp lý liên quan đến tài sản của quốc gia ở nước ngoài, nên việc xác định rõ quyền miễn trừ đối với tài sản của quốc gia ở nước ngoài cũng như mức độ thực hiện quyền này là hoàn toàn cần thiết để tránh những tranh chấp có thể phát sinh.

Pháp luật thực định của Việt Nam cũng chưa có quy định chính thức nào về nội dung của quyền miễn trừ quốc gia. Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam ngày 07/9/1993 có một số quy định về quyền miễn trừ tư pháp. Theo khoản 1 Điều 12 Pháp lệnh, “viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ xét xử về hình sự tại Việt Nam. Họ cũng được hưởng quyền miễn trừ xét xử về dân sự và xử phạt hành chính”. Và khoản 3 Điều 12 Pháp lệnh quy định: “viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ đối với các biện pháp thi hành án”. Vậy, quyền miễn trừ về tài sản thuộc sở hữu quốc gia chưa thấy đề cập. Hơn nữa, đây chỉ là những quy định về quyền miễn trừ dành cho viên chức ngoại giao và thành viên gia đình của họ (khoản 1 Điều 17 Pháp lệnh). Không có quy phạm nào của Pháp lệnh cho thấy nhà nước nước ngoài có quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn trừ tài sản ở Việt Nam. Tương tự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (đã hết hiệu lực thi hành) quy định: “vụ án dân sự có liên quan đến nhà nước nước ngoài hoặc người được hưởng quy chế ngoại giao được giải quyết bằng con đường ngoại giao, trừ trường hợp nhà nước nước ngoài hoặc người được hưởng quy chế ngoại giao đồng ý tham gia tố tụng tại tòa án Việt Nam”. Đây là văn bản pháp luật duy nhất có quy định về quyền miễn trừ của nhà nước nước ngoài trong tố tụng dân sự quốc tế nhưng cũng không đề cập đến nội dung của quyền miễn trừ. Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2005 Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực pháp luật và không có quy phạm nào thừa nhận quyền miễn trừ tư pháp của nhà nước nước ngoài ở Việt Nam. Khoản 4 Điều 2 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài được hưởng các quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc các quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia thì vụ việc dân sự có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức đó được giải quyết bằng con đường ngoại giao”.

Để giải quyết vấn đề này, TPQT Việt Nam cần xác định rõ nội dung quyền miễn trừ của quốc gia theo hướng quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc sở hữu quốc gia ở nước ngoài. Nội dung này cần được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật thực định có hiệu lực pháp lý cao, cụ thể là Bộ luật Tố tụng dân sự theo hướng: nhà nước nước ngoài, cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài được hưởng các quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc các quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia khi tham gia quan hệ dân sự tại Việt Nam thì được hưởng quyền miễn trừ tư pháp và quyền miễn trừ đối với tài sản thuộc sở hữu của mình, trừ những trường hợp cụ thể pháp luật Việt Nam có quy định riêng.

Nội dung quyền miễn trừ của quốc gia đã được quy định thống nhất trong các văn bản của LHQ, các điều ước quốc tế có liên quan và được cụ thể hóa vào văn bản pháp luật của nhiều nước. Chính vì vậy, việc quy định một cách rõ ràng, cụ thể nội dung quyền miễn trừ của quốc gia trong pháp luật Việt Nam cũng góp phần đưa TPQT Việt Nam tiến gần hơn với các chuẩn mực của đời sống pháp lý quốc tế trong vấn đề này.

Vấn đề thứ hai cần giải quyết là phạm vi của quyền miễn trừ của quốc gia trong TPQT Việt Nam hay nói cách khác, Việt Nam chấp nhận Thuyết quyền miễn trừ tương đối hay vẫn tiếp tục theo đuổi Thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối của quốc gia.

Phần lớn các quan điểm hiện nay đều tán đồng Thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối của quốc gia, phản đối Thuyết quyền miễn trừ tương đối. Theo Giáo trình TPQT của Trường Đại học Luật Hà Nội “nội dung thuyết miễn trừ theo chức năng hoàn toàn trái với các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế cũng như của TPQT, không có lợi cho việc thúc đẩy giao lưu dân sự quốc tế”1. Tương tự, theo giáo trình của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội “nội dung thuyết miễn trừ theo chức năng hoàn toàn trái với các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế cũng như của TPQT”. “Pháp luật Việt Nam cũng như thực tiễn tư pháp Việt Nam luôn luôn bảo đảm tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của nhà nước nước ngoài bằng con đường ngoại giao, trừ trường hợp nhà nước đó đồng ý tham gia tố tụng tại tòa án Việt Nam”2. Dường như về mặt lý luận, Việt Nam chỉ chấp nhận Thuyết quyền miễn tuyệt đối, công khai bác bỏ Thuyết quyền miễn trừ tương đối của quốc gia.

Thực tiễn đời sống pháp lý quốc tế cho thấy, nếu chấp nhận Thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối của quốc gia sẽ có những trường hợp không bảo vệ được một cách hữu hiệu lợi ích của các pháp nhân và thể nhân của quốc gia đó khi tham gia vào quan hệ dân sự với một quốc gia khác và ngược lại, quốc gia chấp nhận Thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối sẽ bất lợi khi tham gia vào mối quan hệ dân sự với quốc gia hay pháp nhân, thể nhân của quốc gia chấp nhận Thuyết quyền miễn trừ tương đối. Chính vì vậy, chấp nhận Thuyết quyền miễn trừ tương đối cả về lý luận lẫn quy định trong pháp luật thực định là xu thế không thể đảo ngược của TPQT. Thực tiễn đời sống pháp lý Việt Nam cũng cho thấy việc coi Thuyết miễn trừ tương đối là trái với các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế hay của TPQT là thiếu thuyết phục. Tiến sĩ Đỗ Văn Đại đã dẫn ra một trường hợp cụ thể để chứng minh cho quan điểm này là vụ tàu Cần Giờ được rất nhiều người biết đến.

Năm 1999, một doanh nghiệp có tên là Mohamed Enterprises của Tanzania ký hợp đồng và thanh toán trước toàn bộ số tiền khoảng 1,4 triệu USD để mua 6.000 tấn gạo của Công ty Thanh Hòa ở Tiền Giang. Sau đó, Công ty Thanh Hòa đã thuê một tàu chở gạo để thực hiện hợp đồng trên. Nhưng con tàu mà Công ty Thanh Hòa thuê lại là một con tàu “ma”, trên đường chở gạo đã trốn bặt tăm. Không nhận được gạo, Công ty Mohamed Enterprises đã khởi kiện đối tác của Việt Nam… Sự việc cứ kéo dài không được xử lý dứt điểm. Bốn năm sau (2003), tàu Sài Gòn của Công ty SEA Saigon cập cảng Tanzania đã bị bắt giữ làm con tin nhằm tạo áp lực buộc phía Việt Nam thanh toán số nợ năm 1999. Ngày 22/7/2005, Tòa án Tanzania tuyên phạt phía Việt Nam gần 2 triệu USD bao gồm tiền bồi thường thiệt hại từ hợp đồng gạo với Công ty Mohamed Enterprises và tiền lãi phát sinh. Phán quyết ghi rõ, Chính phủ Việt Nam là bị đơn thứ 12 của vụ án. Theo tòa án, quyền miễn trừ tư pháp của nhà nước Việt Nam trong trường hợp này không tuyệt đối vì Chính phủ Việt Nam đã tham gia tích cực vào các giai đoạn của việc thực hiện hợp đồng. Vì vậy, Chính phủ Việt Nam không được hưởng quyền miễn trừ xét xử3.

Vụ việc trên cho thấy, nếu nhà nước Việt Nam tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài với tư cách một bên chủ thể thì trong những trường hợp cụ thể nhất định sẽ không được hưởng quyền miễn trừ, nghĩa là nhà nước Việt Nam phải tham gia như một chủ thể bình thường khác. Như vậy, rõ ràng việc tuyệt đối hóa quyền miễn trừ tư pháp không có lợi cho nhà nước Việt Nam và đặc biệt là các cá nhân, pháp nhân Việt Nam trong các quan hệ TPQT. Đây sẽ là cơ sở để nhà nước nước ngoài không tuân thủ một số nghĩa vụ của họ bởi vì nhà nước nước ngoài được hưởng quyền miễn trừ tuyệt đối ở Việt Nam trong khi nhà nước Việt Nam không được hưởng quyền miễn trừ tuyệt đối ở nước ngoài.

Ví dụ: nhà nước nước ngoài thuê công dân Việt Nam hoặc thuê pháp nhân Việt Nam thực hiện một công việc sau đó vi phạm về nghĩa vụ trả lương hay đóng bảo hiểm thì rõ ràng công dân Việt Nam hay pháp nhân Việt Nam không thể được bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình vì nhà nước nước ngoài hưởng quyền miễn trừ trong mọi trường hợp.

Tại Việt Nam chưa có Luật về quyền miễn trừ quốc gia và trong các văn bản pháp luật hiện hành chưa có quy định chính thức nào quy định trực tiếp về vấn đề này. Tuy nhiên, một số quy định trong các văn bản pháp luật cụ thể có thể lý giải được vấn đề. Theo khoản 1 và 3 Điều 12 Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ thì viên chức ngoại giao không được hưởng quyền miễn trừ trong trường hợp họ “tham gia với tư cách cá nhân vào các vụ tranh chấp liên quan đến bất động sản tư nhân có trên lãnh thổ Việt Nam; việc thừa kế; hoạt động thương mại hoặc nghề nghiệp mà viên chức ngoại giao tiến hành tại Việt Nam ngoài phạm vi chức năng chính thức của họ”. Quy định này thể hiện rõ quan điểm đối với viên chức ngoại giao thì quyền miễn trừ của họ chỉ là tương đối, nghĩa là quyền miễn trừ không bị giới hạn ở bất cứ lĩnh vực quan hệ dân sự nào nhưng bị hạn chế, hay không được hưởng, trong một số trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, đối với nhà nước nước ngoài thì pháp lệnh lại không đề cập và Bộ luật Tố tụng dân sự cũng không có quy định nào về vấn đề này.

Những phân tích trên chứng minh một điều rằng, việc thừa nhận một cách cứng nhắc quyền miễn trừ tuyệt đối của nhà nước nước ngoài ở Việt Nam chỉ làm thiệt hại cho chúng ta vì chắc chắn trong quy định của pháp luật nhiều quốc gia chỉ dành cho nhà nước Việt Nam quyền miễn trừ tương đối tại quốc gia đó. Chính vì vậy, trong điều kiện giao lưu kinh tế thương mại hiện nay cũng như cùng với sự phát triển của TPQT hiện đại, Việt Nam nên chấp nhận thuyết quyền miễn trừ tương đối của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ kinh tế, dân sự quốc tế để bảo vệ hiệu quả lợi ích của các công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam khi tham gia vào các quan hệ tài sản với quốc gia nước ngoài. Pháp luật Việt Nam cần có quy định về những trường hợp cụ thể nhà nước nước ngoài không được hưởng quyền miễn trừ tại Việt Nam khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế.

Vấn đề thứ ba là cần làm rõ nội dung của Thuyết quyền miễn trừ tương đối của quốc gia về mặt lý luận. Nhiều quan điểm hiện nay vẫn hiểu quyền miễn trừ tương đối theo hướng quốc gia bị hạn chế một số lĩnh vực quan hệ dân sự quốc tế không được hưởng quyền miễn trừ, còn trong những lĩnh vực mà quốc gia được hưởng quyền miễn trừ thì quốc gia sẽ được hưởng quyền miễn trừ trong bất cứ trường hợp nào mà quốc gia tham gia. Theo chúng tôi, quan điểm này là không chính xác. Sự tương đối ở đây cần phải được hiểu theo hướng những trường hợp cụ thể mà quốc gia không được hưởng quyền miễn trừ, còn phạm vi của quyền miễn trừ vẫn bao trùm tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mà quốc gia tham gia. Sự khác nhau ở đây chính là phạm vi những trường hợp được hưởng quyền miễn trừ chứ không phải ở lĩnh vực quan hệ được hưởng quyền miễn trừ. Việc làm rõ nội dung của Thuyết miễn trừ là rất quan trọng bởi nếu hiểu không chính xác sẽ dẫn đến tình trạng không bảo vệ được lợi ích hợp pháp của quốc gia khi tham gia các quan hệ dân sự quốc tế, hoặc không tôn trọng lợi ích hợp pháp của quốc gia khác, vi phạm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của quốc gia.

Chú thích:

(1) Xem Giáo trình TPQT, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, 1999, tr.115.

(2) Xem Giáo trình TPQT, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb. ĐHQG Hà Nội, 1997, tr.119 và tr.217.

(3) Xem TS. Đỗ Văn Đại, TS. Mai Hồng Quỳ, Tư pháp Quốc tế Việt Nam, Nxb. ĐHQG TP. Hồ Chí Minh, 2006, tr.69, tr.70.

Nguồn trích dẫn từ:http://www.nclp.org.vn

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng;

>> Xem thêm:  Thế nào là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội ? Trách nhiệm hình sự đối với người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội ra sao ?

2. Dẫn độ tội phạm trong Tư pháp quốc tế

Công ty luật Minh Khuê phân tích chủ đề "Dẫn độ tội phạm trong Tư pháp quốc tế" để quý khách hàng tham khảo trong quá trình nghiên cứu pháp luật trên thực tiễn:

Dẫn độ tội phạm trong Tư pháp quốc tế

DẪN ĐỘ TỘI PHẠM TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

* Định nghĩa:

Dẫn độ tội phạm là hành vi tương trợ pháp lý được thỏa thuận giữa các quốc gia hữu quan trên cơ sở pháp luật quốc tế. Trong đó quốc gia yêu cầu yêu cầu quốc gia được yêu cầu thực hiện việc chuyển giao các cá nhân đang hiện diện trên lãnh thổ nước mình cho quốc gia yêu cầu để tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành các bản án đã có hiệu lực pháp luật đối với các cá nhân đó.

Cơ sở pháp lý: Căn cứ vào các Điều ước quốc tế song phương và đa phương giữa các quốc gia được yêu cầu. Trong trường hợp không có Điều ước quốc tế thì sẽ căn cứ vào các đọa luật chuyên biệt của quốc gia về dẫn độ tội phạm. Trong trường hợp không có Điều ước quốc tế và không có đạo luật cụ thể của quốc gia thì các quốc gia thông thường tiến hành trên cơ sở có đi có lại.

* Các nguyên tắc pháp lý trong dẫn độ tội phạm:

- Có đi có lại: Quốc gia được yêu cầu chỉ tiến hành dẫn độ tội phạm nếu nhận được sự bảo đảm chắc chắn từ phía quốc gia yêu cầu rằng trong trường hợp dẫn độ tương tự phát sinh thì quốc gia yêu cầu cũng sẽ đảm bảo chắc chắn trong thực tế việc thục hiện dẫn độ tội phạm cho quốc gia hữu quan.

- Định danh kép: theo nguyên tắc này quốc ggia đucợ yêu cầu chỉ dẫn độ tội phạm khi hành vi do ngời bị dẫn độ thực hiện được định danh là hành vi tội phạm theo quyd dịnh hiện hành của pháp luật cả hai quốc gia đồng thời hành vi phạm tội phỉ được định án ở mức trừng phạt cụ thể được xác định theo ý chí của các quốc gia hữu quan, được ghi nhận trong pháp luật nước mình hoặc do các quốc gia thực hiện nhất trí. Nếu mức án thấp hơn mức án được quy định trong Luật quốc gia hoặc Điều ước quốc tế thì quốc gia đucợ yêu cầu dẫn độ có quyền từ cối yêu cầu dẫn độ.

- Không dẫn độ công dân nước mình: theo nguyên tắc này quốc gia được yêu cầu chỉ dẫn độ nếu cá nhân bị yêu cầu dẫn độ không phải là công dân nước mình.

- Không dẫn độ tội phạm chính trị:

+ Tội phạm chính trị tuyệt đối: là hành vi mà không có bất kỳ sự nghi ngờ nào về tính chính trị của tội phạm. Ví dụ: chống lại cơ quan nhân dân, mi ttinh,...

+ Tội phạm chính trị tương đối: là tội phạm hình sự chung nhưng được thực hiện với mục đích và động cơ chính trị. Ví dụ: giết chính khách; đốt kho vũ khí, lương thực;...

Tuy nhiên nguyên tắc này tồn tại một ngoại lệ là thủ phạm giết nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu chính phủ không được hưởng quyền không bị dẫn độ.

* Các trường hợp không bị dẫn độ:

- Không dẫn độ nếu các cá nhân bị dẫn đị sẽ bị kết án vì một tội phạm khác.

- Không dẫn độ nếu án tử hình sẽ được áp dụng theo quy định của pháp luật quốc gia yêu cầu dẫn độ.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Tội phạm có tính chất quốc tế

3. Giám định tư pháp - Điểm "nghẽn" của ngành tư pháp

Mặc dù sau 5 năm Pháp lệnh Giám định tư pháp đi vào cuộc sống, nhưng công tác giám định tư pháp vẫn đang được coi là điểm “nghẽn” của ngành tư pháp với nhiều vấn đề nổi cộm từ cơ chế, con người đến chất lượng của các kết quả giám định.

Thiếu…

Theo Báo cáo của Cơ quan điều tra, Bộ Công an và Cơ quan cảnh sát điều tra của 60 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, từ ngày 1.1.2005 đến tháng 8.2010, cơ quan điều tra trưng cầu khoảng 439.479 vụ giám định trên các lĩnh vực. Giám định pháp y được triển khai ở 3 ngành y tế, công an và quốc phòng; trong số các lĩnh vực giám định ở nước ta, hoạt động giám định pháp y chiếm số lượng vụ việc lớn nhất. Trung bình mỗi năm, các tổ chức pháp y nhận và thực hiện giám định trên 32.000 vụ việc. Giám định pháp y trong ngành công an và quốc phòng đều do các giám định viên pháp y chuyên trách đảm nhiệm.
Sau 5 năm triển khai thi hành Pháp lệnh giám định tư pháp – văn bản được đánh giá là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật về giám định tư pháp, góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng trong tiến trình cải cách tư pháp đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Đó là hệ thống tổ chức giám định tư pháp trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự ở Trung ương và địa phương được củng cố, kiện toàn một bước, đội ngũ giám định viên tư pháp đã được tăng cường, cơ sở vật chất, phương tiện công tác và các điều kiện cần thiết khác phục vụ cho hoạt động giám định đã bước đầu được chú trọng, hoạt động quản lý nhà nước được tăng cường và đạt được những kết quả nhất định.

Theo thống kê của Bộ Tư pháp, tính đến nay, tổng số giám định viên được bổ nhiệm và cấp thẻ là 3.115 người trên nhiều lĩnh vực khác nhau như pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự, tài chính – kế toán, văn hóa, xây dựng, tài nguyên, môi trường, giao thông vận tải, nông lâm ngư nghiệp, khoa học kỹ thuật và một số lĩnh vực khác. Trong đó có khoảng 722 giám định viên chuyên trách, chủ yếu là giám định viên kỹ thuật hình sự chiếm 582 người, giám định viên pháp y khoảng 100 người, còn lại giám định viên pháp y tâm thần. So với trước khi ban hành Pháp lệnh, đội ngũ giám định viên tư pháp có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng, nhất là giám định viên tài chính – kế toán có tốc độ tăng nhanh nhất. Ngoài các giám định viên tư pháp được bổ nhiệm và cấp thẻ, có còn 237 người giám định tư pháp theo vụ việc đã được Bộ Tư pháp lập và công bố danh sách. Người giám định tư pháp theo vụ việc chủ yếu là các chuyên gia ở các lĩnh vực mới chưa có giám định viên tư pháp như công nghệ công tin, điện lực, thương mại…

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.0159

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.0159

Hiện nay, có 14 địa phương vẫn duy trì hình thức tổ chức giám định pháp y, 18 địa phương mặc dù có bệnh viện tâm thần nhưng chưa thành lập được Trung tâm Giám định pháp y tâm thần theo quy định của Pháp lệnh Giám định tư pháp mà vẫn duy trì hình thức tổ chức giám định pháp y tâm thần theo quy định của Nghị định 117/HĐBT ngày 21.7.1988 về giám định tư pháp. Chính vì thế thiếu giám định viên là tình trạng phổ biến ở hầu hết các địa phương, nhất là giám định viên chuyên trách ở 3 lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần và kỹ thuật hình sự. Trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, một số địa phương có nhu cầu nhưng vẫn chưa thành lập được Trung tâm do không có đủ giám định viên theo quy định. Trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự, theo tính toán của Bộ Công an hiện còn thiếu khoảng 200 người nên nhiều địa phương mới chỉ triển khai được giám định chuyên ngành kỹ thuật hình sự mang tính truyền thống như tài liệu, đường vân… Ngoài ra, trong lĩnh vực pháp y, việc thực hiện giám định của giám định viên kiêm nhiệm chưa thực sự gắn với hoạt động của tổ chức giám định tư pháp. Các tổ chức giám định tư pháp chưa phát huy được vai trò của mình trong việc bổ nhiệm giám định viên, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ giám định và kiểm tra việc thực hiện quy trình, quy chuẩn giám định của giám định viên tư pháp nên việc trưng cầu và thực hiện giám định đôi khi còn tùy tiện. Đặc biệt hiện nay, tất cả các lĩnh vực giám định vẫn chưa có quy chuẩn chuyên môn giám định, nhất là Bảng tỷ lệ thương tích trong giám định pháp y nên rất khó khăn cho người giám định tư pháp khi thực hiện giám định cũng như người tiến hành tố tụng khi đánh giá chứng cứ. Việc chưa có quy chuẩn chuyên môn giám định cũng đồng nghĩa với việc thiếu căn cứ để các Bộ, ngành và địa phương lựa chọn và công bố các tổ chức chuyên môn có đủ tiêu chuẩn, điều kiện để thực hiện giám định theo quy định tại Điều 24 của Pháp lệnh. Vì vậy, cơ quan tiến hành tố tụng thường rất lúng túng khi cần trưng cầu giám định ở những lĩnh vực không có tổ chức giám định tư pháp như tài chính, xây dựng, văn hóa, giao thông, lâm nghiệp, làm chậm chễ, thậm chí ách tắc nhiều vụ án.

Một thực tế khác là đội ngũ người tiến hành tố tụng chưa được trang bị những kiến thức kỹ thuật cần thiết về giám định tư pháp nên gặp khó khăn trong việc đánh giá kết luận giám định. Bên cạnh đó, việc ban hành và triển khai thực hiện các văn bản về chế độ chính sách còn rất chậm. Mặc dù Pháp lệnh có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1.1.2005 nhưng đến ngày 7.5.2009 Quyết định số 74/2009/QĐ-TTg về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp mới được ban hành. Nhiều địa phương đến nay vẫn chưa triển khai thực hiện Quyết định số 74/2009/QĐ-TTg (hầu hết cơ quan cảnh sát điều tra các cấp đều đang nợ đọng tiền bồi dưỡng giám định với số lượng lớn) nên việc giám định còn bị chậm, kéo dài, chưa khuyến khích được chất xám của giám định viên. Một khía cạnh khác nữa là kinh phí chi trả cho việc thực hiện giám định. Thực tế, chi phí cho việc thực hiện giám định rất lớn, nhất là trường hợp phải trưng cầu các tổ chức chuyên môn là đơn vị kinh doanh, tự hạch toán tài chính, chuyên gia thực hiện giám định là người không hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Bởi vì, khi đó chi phí chi trả cho việc thực hiện giám định được tính theo giá dịch vụ chuyên môn theo cơ chế giá cả thị trường trong khi mục chi ngân sách cho việc chi trả này không có mà phải “bấu víu” vào kinh phí cấp cho giải quyết án hình sự vốn rất hạn hẹp, hoặc trông chờ vào sự hỗ trợ kinh phí của các địa phương, các ngành nơi diễn ra vụ việc. Tình trạng “ăn đong” về kinh phí này khiến cho việc trưng cầu và thực hiện giám định thường bị kéo dài, ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết các vụ án.

Hệ thống tổ chức lạc hậu

Quy định của Pháp lệnh về hệ thống tổ chức giám định tư pháp đã bộc lộ những bất cập, khôn g phù hợp với thực tiễn. Pháp lệnh quy định việc xây dựng hệ thống tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự ở tất cả các địa phương, dẫn đến sự đầu tư bị dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm trong khi đó, nhu cầu và điều kiện giám định ở các địa phương là khác nhau. Pháp lệnh Giám định tư pháp quy định cho phép trưng cầu tổ chức chuyên môn thực hiện giám định nhưng chưa có cơ chế cụ thể bảo đảm cho tổ chức chuyên môn tham gia thực hiện giám định, chưa quy định rõ ràng trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức được trưng cầu giám định tư pháp nên việc tham gia giám định của các tổ chức chuyên môn hiện nay còn rất hạn chế.

Bên cạnh đó, quy định về mô hình và cơ chế quản lý nhà nước về giám định tư pháp đã bộc lộ những điểm chưa phù hợp. Thực tế cho thấy, để quản lý nhà nước có hiệu quả thì cơ quan được giao quản lý nhà nước phải có một số thẩm quyền cần thiết và được bảo đảm một số điều kiện, phương tiện để thực hiện như có thẩm quyền về quản lý tổ chức, về kinh phí… Tuy nhiên, theo quy định của Pháp lệnh Giám định tư pháp thì các thẩm quyền trên đối với hoạt động giám định tư pháp đều được giao cho UBND cấp tỉnh và các Bộ, ngành khác. Bộ Tư pháp tuy được giao nhiệm vụ giúp Chính phủ quản lý nhà nước về hoạt động giám định tư pháp, nhưng Pháp lệnh lại chưa có cơ chế để Bộ Tư pháp thực hiện chức năng này. Vì vậy, thời gian qua, việc quản lý của Bộ Tư pháp chỉ dừng lại ở việc ban hành hoặc soạn thảo trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về giám định tư pháp và hướng dẫn thi hành; xây dựng chương trình bồi dưỡng kiến thức pháp luật cần thiết cho giám định viên tư pháp và phối hợp với các Bộ và UBND cấp tỉnh bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức pháp luật cần thiết cho giám định viên tư pháp. Đồng thời, Bộ Tư pháp không thể phát huy được vai trò của mình trong hoạt động quản lý công tác giám định, mặt khác các Bộ, ngành được giao trực tiếp quản lý về con người, tổ chức, kinh phí, về đầu tư cơ sở vật chất cho các tổ chức giám định lại ít quan tâm đến công tác này. Hơn nữa Pháp lệnh giám định tư pháp quy định không rõ ràng về “người giám định tư pháp theo vụ việc” nên cách hiểu về quy định này có lúc chưa thống nhất, ví dụ như trong trường hợp giám định 3 triệu cổ phiếu ở nhà máy nhiệt điện Phả Lại, khi cơ quan điều tra trưng cầu Bộ Tài chính với tư cách là tổ chức chuyên môn và Bộ Tài chính phân công Chánh Thanh tra Ủy ban chứng khoán Nhà nước thực hiện giám định thì có ý kiến cho rằng người được phân công thực hiện giám định không phải là giám định viên và cũng không phải là người giám định tư pháp theo vụ việc đã được Bộ Tư pháp lập và công bố danh sách dẫn đến băn khoăn về giá trị kết luận giám định.

SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN - PHÙNG HƯƠNG

Trích dẫn từ: http://daibieunhandan.vn

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Một số vấn đề về pháp nhân trong tư pháp quốc tế

4. Vai trò, chức năng của Bộ Tư Pháp liên bang Thũy sỹ trong việc tham gia ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế và hợp tác pháp luật và tư pháp

Tham gia ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế về hợp tác pháp luật và tư pháp là một trong các chức năng, nhiệm vụ phổ biến của Bộ Tư pháp hầu hết các quốc gia.

Bài viết giới thiệu tóm tắt các chức năng của Bộ Tư pháp Liên bang Thuỵ Sỹ trong lĩnh vực nêu trên, hy vọng sẽ đóng góp phần nào cho việc nghiên cứu, tăng cường chức năng của Bộ Tư pháp Việt Nam trong công tác hợp tác pháp luật, tư pháp nói chung và công tác ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp nói riêng.

Bộ Tư pháp và Cảnh sát Liên bang Thuỵ Sỹ (Federal Department of Justice and Police- FDJP) có rất nhiều chức năng khác nhau. Bộ xử lý các vấn đề chính trị-xã hội, như cùng chung sống hoà bình giữa công dân Thuỵ Sỹ và công dân nước ngoài, cư trú chính trị, an ninh trong nước và phòng chống tội phạm. Đối với FDJP thì các vấn đề về hôn nhân và quốc tịch cũng quan trọng như các vấn đề về quản trị công ty, giám sát hoạt động cờ bạc hay soạn thảo các luật và văn kiện về tương trợ tư pháp quốc tế và hợp tác cảnh sát.

Bộ có bốn văn phòng Liên bang:Văn phòng Tư pháp Liên bang, Văn phòng Cảnh sát Liên bang, Văn phòng di cư Liên bang và Văn phòng đo lường Liên bang.

1. Văn phòng Tư pháp Liên bang (Federal Office of Justice – FOJ)

Văn phòng Tư pháp Liên bang là cơ quan của Bộ Tư pháp và Cảnh sát Liên bang, chịu trách nhiệm về các vấn đề lập pháp liên quan đến luật hiến pháp và hành chính, luật tư và luật hình sự. Đây là cơ quan cố vấn cho các cơ quan khác trong Chính phủ Thuỵ Sỹ về mọi vấn đề lập pháp và soạn thảo ý kiến tư vấn. Với tư cách là cơ quan giám sát, Văn phòng Tư pháp Liên bang giám sát đăng ký thương mại, đăng ký hộ tịch và đăng ký đất đai, cũng như việc thủ đắc bất động sản của những người cư trú ở bên ngoài Thuỵ Sỹ.

Ở tầm quốc tế, FOJ đại diện cho Thuỵ Sỹ trước Toà án Nhân quyền châu Âu và trước nhiều tổ chức quốc tế. Bên cạnh đó, FOJ là cơ quan trung ương trong các vụ việc liên quan đến bắt cóc trẻ em quốc tế và hợp tác với các cơ quan có thẩm quyền quốc gia và quốc tế trong những vấn đề liên quan đến tương trợ tư pháp và dẫn độ.

Ở tầm quốc gia, FOJ chuẩn bị dự thảo các nghị định trình Hội đồng Liên bang trong những vấn đề liên quan đến kháng cáo hành chính.

Văn phòng Tư pháp Liên bang cũng tư vấn cho các cơ quan khác của Chính quyền Liên bang về tất cả các vấn đề lập pháp.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.0159

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.0159

2. Phòng Tư pháp quốc tế

Phòng Tư pháp quốc tế là cơ quan chuyên môn của Chính phủ Thuỵ Sỹ khi Thuỵ Sỹ tham gia tư pháp quốc tế và thủ tục tố tụng dân sự quốc tế, kể cả liên quan đến luật phá sản. Phòng này cũng ra các tuyên bố về lập trường đối với những vấn đề này để các cơ quan Liên bang khác làm căn cứ. Phòng Tư pháp quốc tế còn là cơ quan trung ương về tương trợ tư pháp dân sự và thu hồi tiền cấp dưỡng quốc tế; tham gia các tổ chức quốc tế trong việc soạn thảo điều ước quốc tế và các luật mẫu, đặc biệt là tại Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế và Uỷ ban LHQ về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) và trong việc chuẩn bị văn bản quy phạm pháp luật của Thuỵ Sỹ liên quan đến tư pháp quốc tế và thủ tục tố tụng dân sự quốc tế. Phòng Tư pháp quốc tế là cơ quan của Thuỵ Sỹ chịu trách nhiệm báo cáo với UNCITRAL. Phòng Tư pháp quốc tế tổ chức và chủ toạ các uỷ ban thường trực liên quan đến Công ước Lugano về quyền tài phán và thi hành các bản án dân sự và thương mại.

Phòng Tư pháp quốc tế có hai cơ quan trung ương xử lý những vấn đề liên quan đến bảo vệ trẻ em quốc tế. Nếu một đứa trẻ bị bố, mẹ hoặc một thành viên khác trong gia đình trẻ em đó bắt cóc và giam giữ ở nước ngoài thì cơ quan trung ương về xử lý các trường hợp bắt cóc trẻ em quốc tế sẽ làm việc với các đối tác ở các quốc gia ký kết để bảo đảm trẻ em đó được trả lại sớm nhất. Liên quan đến nhận con nuôi quốc tế, được giải quyết theo Công ước La Hay về con nuôi quốc tế, cơ quan trung ương về con nuôi quốc tế là đầu mối liên lạc giữa các cơ quan có thẩm quyền của bang và của nước ngoài. Hồ sơ con nuôi do các bang chuẩn bị sẽ được cơ quan trung ương của Liên bang Thuỵ Sỹ kiểm tra trước khi gửi cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Ngược lại, cơ quan trung ương về con nuôi quốc tế cũng chấp nhận các quyết định và tài liệu từ các cơ quan trung ương của nước ngoài và gửi quyết định, tài liệu đó cho các cơ quan trung ương cấp bang để giải quyết.

3. Phòng Pháp luật châu Âu và Nhân quyền quốc tế

Phòng Pháp luật châu Âu và Nhân quyền quốc tế có những nhiệm vụ chính sau đây: một mặt, Phòng soạn thảo và trình các báo cáo định kỳ của Thuỵ Sỹ cho Uỷ ban LHQ về Công ước về các quyền dân sự và chính trị và mặt khác giúp người đứng đầu các cơ quan khác trong việc soạn thảo và trình các báo cáo về việc thực hiện các công ước quốc tế khác về nhân quyền. Phòng này tham gia vào công việc của các uỷ ban chuyên môn trong các tổ chức quốc tế về nhân quyền và hợp tác pháp luật, đặc biệt là các uỷ ban của Hội đồng châu Âu và chuẩn bị cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp Thuỵ Sỹ tham dự các hội nghị Bộ trưởng Tư pháp châu Âu. Trưởng Phòng đại diện cho Chính phủ Thuỵ Sỹ (với tư cách là người đại diện của Chính phủ Thuỵ Sỹ) tại Toà án Nhân quyền châu Âu (ECHR) và tại Uỷ ban chống tra tấn của LHQ (CAT).

Bên cạnh đó, Phòng Pháp luật châu Âu và Nhân quyền quốc tế còn xử lý các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình hội nhập của châu Âu. Phòng này kiểm tra các dự thảo luật và pháp lệnh của Hội đồng Liên bang để bảo đảm phù hợp với luật của châu Âu (đặc biệt là luật của Cộng đồng châu Âu và luật của Hội đồng châu Âu). Ngoài ra, Phòng Pháp luật châu Âu và Nhân quyền quốc tế còn chuẩn bị ý kiến tư vấn và tham gia soạn thảo các đạo luật Liên bang, cũng như các báo cáo và văn bản của Hội đồng Liên bang liên quan đến luật của Cộng đồng châu Âu. Khi thực hiện nhiệm vụ này, Phòng Pháp luật châu Âu và Nhân quyền quốc tế phối hợp chặt chẽ với các văn phòng có liên quan của Chính phủ Liên bang, nhất là Văn phòng Hội nhập và Phòng Pháp luật quốc tế, cũng như với chính quyền bang.

Cuối cùng, Phòng Pháp luật châu Âu và Nhân quyền quốc tế hỗ trợ đại diện được uỷ quyền tại Bộ Tư pháp và Cảnh sát Liên bang (FDJP) trong việc tiếp tục phát triển Công ước Schengen/Dublin.

4. Phòng Điều ước quốc tế

Nhiệm vụ chính của Phòng Điều ước quốc tế là mở rộng khuôn khổ điều ước của Thuỵ Sỹ liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự. Phòng này thẩm tra dự thảo điều ước mà nước ngoài gửi cho Thuỵ Sỹ hoặc tự soạn thảo điều ước của nước mình.

Khuôn khổ về điều ước đang được mở rộng trên toàn thế giới. Ngoài các nước châu Âu lục địa, Thuỵ Sỹ đang đàm phán với các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ (như Hoa Kỳ, Canada, Úc), các nước Nam Phi (như Peru và Ecuador), châu Á (như Hồng Kông và Philippines) và châu Phi (như Ai Cập và Ma-rốc). Danh sách các nước ưu tiên đàm phán, ký kết đã được chuẩn bị nhằm giúp xác định nước nào cần phải tiến hành đàm phán trong tương lai.

Ngoài điều ước quốc tế, còn có các công cụ khác dưới luật quốc tế có thể sử dụng, như trao đổi công hàm hoặc thư từ và các bản ghi nhớ chính trị. Những công cụ này được thực hiện ở tầm chính phủ và không cần phải có sự phê chuẩn của Nghị viện Thuỵ Sỹ. Chúng ngày càng được ưu tiên lựa chọn, đặc biệt là trong quan hệ với những nước chưa sẵn sàng tiến hành đàm phán chính thức. Các công cụ kể trên thường là giai đoạn khởi đầu cho một điều ước và bởi vậy đó là sự thể hiện mong muốn mở rộng hợp tác.

Ngoài việc mở rộng khuôn khổ điều ước song phương, Phòng Điều ước quốc tế còn tham gia soạn thảo các văn bản tương trợ tư pháp đa phương và các thoả thuận trên cơ sở từng vụ việc theo quy định của luật hình sự có chứa đựng các quy định về tương trợ tư pháp. Phòng Điều ước quốc tế theo dõi tất cả các vấn đề liên quan đến tương trợ tư pháp quốc tế trong lĩnh vực hình sự, đặc biệt là các vấn đề đã được thảo luận trong khuôn khổ Hội đồng châu Âu, Liên minh châu Âu và LHQ.

Ngoài ra, Phòng Điều ước quốc tế còn thực hiện các dự án lập pháp liên quan đến tương trợ tư pháp hình sự quốc tế. Phòng thực hiện các dự án này từ giai đoạn khởi động cho đến khi được Nghị viện Thuỵ Sỹ phê duyệt. Thí dụ về các dự án loại này bao gồm dự án sửa đổi, bổ sung Luật Liên bang về Tương trợ tư pháp hình sự quốc tế hoặc việc soạn thảo Nghị quyết Liên bang về việc tham gia các toà án quốc tế về truy tố các hành vi vi phạm nhân quyền quốc tế nghiêm trọng nhất, cũng như Luật Liên bang về Hợp tác với Toà án quốc tế .

Cơ sở pháp lý cho tương trợ tư pháp về hình sự là Luật Liên bang ngày 20/03/1981 về Tương trợ tư pháp hình sự quốc tế (IMAC) và Pháp lệnh ngày 24/02/1982 về Tương trợ tư pháp hình sự quốc tế (O-IMAC).

5. Thủ tục đàm phán, ký kết điều ước quốc tế ở Thuỵ Sỹ

a) Các điều ước quốc tế song phương

Sáng kiến đàm phán điều ước quốc tế song phương xuất phát từ các bang. Nếu Phòng Điều ước quốc tế muốn đàm phán một điều ước quốc tế thì trước tiên phải đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Cảnh sát cấp giấy uỷ quyền. Giấy uỷ quyền chính thức thường không được cấp cho việc đàm phán liên quan đến tương trợ tư pháp. Nếu chủ đề đàm phán chưa được thống nhất thì cần có thảo luận để xác định việc đàm phán, ký kết điều ước đó có khả thi hay không. Thông thường bước đầu tiên dành cho quốc gia muốn đàm phán đưa ra một đề nghị (dự thảo) làm cơ sở cho việc thảo luận sau khi đã có sự tiếp xúc chính thức với đối tác kia. Trong một số trường hợp, bên đối tác kia sẽ đưa ra một bản đề nghị của mình (đề nghị ngược trở lại).

Vòng đàm phán thứ nhất thảo luận về đề nghị và đề nghị ngược trở lại, cũng như các đề nghị tiếp theo. Rất ít khi các khác biệt giữa hai bên được giải quyết xong trong vòng đàm phán đầu tiên, vì vậy cần phải có các vòng đàm phán tiếp theo. Các vòng đàm phán được tiến hành luân phiên tại hai nước hữu quan. Sau khi hai bên thống nhất về một bản dự thảo điều ước chung, lãnh đạo hai đoàn thường sẽ ký vào từng trang của điều ước. Điều ước sẽ được ký chính thức sau khi dự thảo điều ước được Chính phủ chấp thuận. Ở Thuỵ Sỹ, điều ước còn đòi hỏi phải có sự uỷ quyền của Hội đồng Liên bang. Việc ký điều ước thường được tiến hành nhân dịp chuyến thăm chính thức của một thành viên Hội đồng Liên bang hoặc một đại diện của Chính phủ nước ngoài.

Sau khi điều ước được ký, các quốc gia ký sẽ tiến hành thủ tục phê chuẩn trong nước. Thủ tục này liên quan đến việc dịch nội dung của điều ước ra tất cả các ngôn ngữ chính thức và soạn thảo ý kiến của Hội đồng Liên bang về việc chấp thuận điều ước và trình lên Nghị viện Thuỵ Sỹ. Chỉ sau khi được Hội đồng quốc gia và Hội đồng các bang chấp thuận, điều ước đó mới có thể được phê chuẩn thông qua trao đổi văn kiện phê chuẩn hoặc thông báo rằng các thủ tục phê chuẩn trong nước đã hoàn tất.

b) Các điều ước đa phương

Các điều ước đa phương được xây dựng, đàm phán theo sáng kiến của nhiều tổ chức quốc tế khác nhau, thường bằng một nghị quyết của Đại hội đồng LHQ hoặc bằng một đề nghị gửi cho Hội đồng châu Âu. Dự thảo điều ước được đưa ra bởi chính tổ chức đó hoặc một hoặc nhiều quốc gia đã được hoàn chỉnh qua một số lần đàm phán. Tất cả các quốc gia đều có quyền đưa ra đề nghị và nêu rõ quan điểm của mình. Văn bản cuối cùng của điều ước thường được thông qua chính thức tại một hội nghị cấp bộ trưởng. Trong khuôn khổ Hội đồng châu Âu, đây là nhiệm vụ của các uỷ ban Bộ trưởng, họp mỗi năm hai lần. Sau khi được thông qua, điều ước phải đi qua quy trình ký, chấp thuận và phê chuẩn.

7. Hợp tác của Thuỵ Sỹ với các Toà án hình sự quốc tế

a) Hợp tác với các toà án lâm thời

Trong bối cảnh xung đột tại Nam Tư cũ và Ru-an-đa, Thuỵ Sỹ đã ban hành các quy định về hợp tác với các toà án lâm thời tại La Hay và Arusha (Tanzania) vào năm 1995 trong Nghị quyết Liên bang về Hợp tác với các toà án hình sự quốc tế truy tố các hành vi vi phạm Luật nhân đạo quốc tế nghiêm trọng nhất (SR 351.20). Năm 2003, phạm vi điều chỉnh Nghị quyết này được mở rộng để bao hàm cả việc hợp tác với Toà án đặc biệt về Sierra Leone ở Freetown. Nghị quyết quy định các hình thức hợp tác sau đây

b) Hợp tác với Toà án hình sự quốc tế (Internatinal Criminal Court – ICC)

Cần phải phân biệt giữa các toà án lâm thời chỉ có thẩm quyền xét xử trong một lãnh thổ hay đối với một cuộc xung đột nào đó với Toà án hình sự quốc tế thường trực tại Ha Hay, bắt đầu hoạt động từ 01/7/2002.

Ngày 17/7/1998, một Hội nghị ngoại giao của LHQ gồm các đại sứ đặc mệnh toàn quyền đã thông qua Quy chế Rome thành lập một Toà án hình sự quốc tế thường trực (ICC) có trụ sở tại La Hay. ICC chịu trách nhiệm truy tố và xét xử các vụ án liên quan đến diệt chủng, tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh. Toà án chỉ tiến hành xét xử khi một quốc gia thành viên không muốn hoặc không đủ khả năng truy tố các tội phạm đó được thực hiện trên lãnh thổ của mình hoặc do công dân mình thực hiện.

Với truyền thống nhân đạo và vai trò của mình với tư cách là nước lưu chiểu các Công ước Geneva, Thuỵ Sỹ đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập một toàn án có uy tín và độc lập. Thuỵ Sỹ đã phê chuẩn Quy chế Rome về ICC vào năm 2001 và đồng thời tiến hành sửa đổi pháp luật cần thiết để chuyển hoá quy định của Quy chế Rome vào pháp luật trong nước (ban hành pháp luật Liên bang về Hợp tác với ICC (ZISG, SR 351.6), có hiệu lực từ ngày 01/7/2002). Bước tiếp theo là hiện nay đang tiến hành sửa đổi toàn diện Luật hình sự của Thuỵ Sỹ nhằm bảo đảm cho luật này phù hợp với Quy chế Rome. Đã thành lập một văn phòng trung ương thuộc Văn phòng Tư pháp nhằm bảo đảm việc hợp tác được thực hiện một cách suôn sẻ.

8. Mở rộng khuôn khổ điều ước quốc gia về tương trợ tư pháp hình sự quốc tế

Công nghệ tiên tiến hiện nay đang khiến cho tội phạm ngày càng mang tính quốc tế sâu sắc. Thông thường, chứng cứ hoặc nghi can không có mặt tại nước hoặc vùng lãnh thổ có thẩm quyền truy tố. Điều này có nghĩa là sự thành công của bất kỳ cuộc điều tra tầm quốc gia nào đều có thể bị ảnh hưởng nếu thiếu sự hỗ trợ của các quốc gia khác. Vì vậy, sự tương trợ giữa các cơ quan truy tố ngày càng trở nên quan trọng.

Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, không thể tiến hành thủ tục tố tụng hình sự tại một nước cụ thể hoặc thi hành các bản án tại nước đã ra bản án đó. Do đó, các cơ quan xét xử và thi hành án trong các trường hợp như vậy cũng phải dựa vào sự hợp tác với các nước khác.

9. Lý do soạn thảo điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp hình sự

Theo quy định của Luật Liên bang về tương trợ tư pháp hình sự quốc tế, Thuỵ Sỹ có thể hợp tác với các nước khác thậm chí khi không có điều ước theo pháp luật quốc tế. Tuy nhiên, các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp cần phải được ký kết.

Trong số các lý do ký kết có các lý do sau đây:

• Một số quốc gia không thể yêu cầu / thực hiện tương trợ tư pháp nếu thiếu điều ước quốc tế

• Cách thức duy nhất để giải quyết vấn đề tương trợ tư pháp là thông qua kênh hợp tác song phương

• Vệc tương trợ tư pháp quy mô lớn, đặc biệt là đối với những nước có mối quan hệ chặt chẽ, đòi hỏi thủ tục tương trợ đơn giản

• Các tiêu chuẩn quốc gia sẽ được hài hoà hoặc quy định có hiệu quả hơn trong các điều ước đa phương.

10. Các lĩnh vực tương trợ tư pháp hình sự quốc tế

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hình sự được chia thành các lĩnh vực sau đây:

• Dẫn độ

• Tương trợ về các vấn đề nhỏ hoặc phụ (đặc biệt là phỏng vấn nhân chứng hoặc bị cáo, tống đạt giấy triệu tập hoặc bản án, thu thập chứng cứ hoặc giao tài sản)

• Truy tố thay mặt cho quốc gia khác

• Thi hành quyết định của cơ quan tư pháp (kể cả trục xuất người bị kết án về nước gốc)

11. Tương trợ tư pháp

Đơn đề nghị tương trợ tư pháp quốc tế do Văn phòng Tư pháp nhận, kiểm tra sơ bộ và sau đó được chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền bang hoặc liên bang thực hiện. Văn phòng Tư pháp tự mình có thể quyết định chấp nhận và thi hành các biện pháp tương trợ tư pháp nếu đó là vụ án phức tạp hoặc đặc biệt quan trọng hoặc nếu đơn đề nghị tương trợ yêu cầu tiến hành điều tra tại nhiều bang. Bản án đã có hiệu lực pháp luật có thể bị kháng cáo lên Toà án tối cao Liên bang Thuỵ Sỹ.

12. Các biện pháp điều tra đặc biệt

Theo các quy định của Thuỵ Sỹ về hợp tác tư pháp song phương, có rất ít cơ hội cho cơ quan yêu cầu tiến hành các cuộc điều tra dự định (như lấy lời khai của người làm chứng) một cách trực tiếp và độc lập trên lãnh thổ chủ quyền của Thuỵ Sỹ. Nghị quyết Liên bang năm 1995 có thoáng hơn trong vấn đề này và quy định Bộ Tư pháp và Cảnh sát Liên bang (FDJP) cho phép thực hiện những hành vi tố tụng đó trên lãnh thổ Thuỵ Sỹ. Đến nay, FDJP đã thực hiện tất cả các yêu cầu hợp tác của các toà án lâm thời. Cách tiếp cận này cho phép đáp ứng tốt hơn các yêu cầu chính thức của các toà án quốc tế trong khi vẫn bảo vệ được quyền lợi của người làm chứng.

13. Chuyển giao

FOJ ra lệnh bắt và lệnh chuyển giao (dẫn độ) và quyết định có chuyển giao hay không chuyển giao người bị yêu cầu dẫn độ cho Toà án hình sự quốc tế. Ở Thuỵ Sỹ, chỉ được kháng cáo bản án phạt tù trong quá trình tiến hành thủ tục chuyển giao không được quyền kháng cáo đối với quyết định chuyển giao. Người bị yêu chuyển giao chỉ có thể khiếu nại về thẩm quyền xét xử của Toà án hình sự quốc tế khi họ xuất hiện trước Toà. Nếu công dân Thuỵ Sỹ được chuyển giao cho Toà án thì FOJ sẽ đề nghị trao trả lại người đó cho Thuỵ Sỹ để chấp hành hình phạt của họ sau khi việc xét xử tại Toà án kết thúc.

14. Dẫn độ

a) Định nghĩa:

Dẫn độ là việc quốc gia được yêu cầu giao nộp bằng biện pháp cưỡng chế người bị truy nã cho quốc gia yêu cầu. Dẫn độ nhằm mục đích:

• Truy tố

Ví dụ: Cơ quan điều tra đang tiền hành điều tra đối với một người phạm tội cổ cồn trắng. Nếu người đó không có mặt tại cơ quan điều tra thì sẽ bị đưa vào danh sách truy nã ở trong nước và ở nước ngoài. Nếu người này bị bắt ở nước ngoài thì việc dẫn độ người đó có thể được yêu cầu nhằm mục đích kết thúc việc khởi tố và đưa ra toà xét xử,

hoặc để thi hành hình phạt tước quyền tự do

Ví dụ: Một người buôn bán ma tuý, bị kết án và phạt tù giam nhưng đã bỏ trốn khỏi nơi giam giữ. Người đó đã bị đưa vào danh sách truy nã ở trong nước và ở nước ngoài. Nếu bị bắt ở nước ngoài thì quốc gia liên quan có thể yêu cầu dẫn độ người đó để chấp hành hình phạt tù còn lại.

Dẫn độ cần được phân biệt với trục xuất và đẩy đuổi:

- Trục xuất là biện pháp nghiêm khắc nhất được áp dụng đối với người nước ngoài theo lệnh của Cảnh sát về người nước ngoài và có nghĩa là người đó không còn được phép lưu lại lãnh thổ Thuỵ Sỹ. Trục xuất được áp dụng nhằm bảo đảm an ninh của nước nơi người bị trục xuất cư trú và được quyết định không cần có yêu cầu của một nước thứ ba.

- Nếu người nước ngoài đã bị trục xuất nhưng không chấp hành nghĩa vụ rời khỏi Thuỵ Sỹ thì có thể bị đẩy đuổi; tức là cảnh sát tổ chức và giám sát việc người đó rời khỏi Thuỵ Sỹ.

b) Thủ tục dẫn độ ở Thuỵ Sỹ

• Căn cứ pháp lý

Thủ tục dẫn độ ở Thuỵ Sỹ được quy định trong Luật Liên bang về tương trợ tư pháp hình sự quốc tế (IMAC, SR 351.1). Thuỵ Sỹ đã ký kết hiệp định dẫn độ với hầu hết các nước châu Âu và nhiều nước khác. IMAC cho phép dẫn độ khi giữa Thuỵ Sỹ và nước ngoài chưa có điều ước.

Các điều ước trước đây về dẫn độ chứa đựng một danh sách các tội phạm bị dẫn độ. Ngược lại, các điều ước hiện nay, như Công ước châu Âu về dẫn độ quy định việc dẫn độ chỉ được phép nếu tội phạm nêu trong yêu cầu dẫn độ có thể bị xử phạt tước quyền tự do trong một thời hạn tối thiểu nào đó (trên một năm) và hình phạt đã tuyên phải có thời hạn tối thiểu nào đó (bốn tháng).

Bị coi là tội phạm bị dẫn độ nếu hành vi mà người phạm tội đã thực hiện có thể bị xử phạt ở cả nước yêu cầu và nước được yêu cầu dẫn độ (nguyên tắc phạm tội kép hay còn gọi là nguyên tắc cùng hình sự hoá). Tên tội (tội danh) không nhất thiết phải như nhau ở hai quốc gia; ví dụ: Tội trộm cắp tài sản được thực hiện ở nước ngoài có thể có tên gọi là tội tham ô hay biển thủ trong Bộ luật hình sự của Thuỵ Sỹ).

Theo quy tắc đặc biệt (the rule of speciality), quyết định cho phép dẫn độ chỉ có hiệu lực đối với những tội nêu trong yêu cầu cầu dẫn độ. Vì vậy, người bị dẫn độ chỉ có thể bị truy tố, giam giữ hoặc bị dẫn độ cho quốc gia thứ ba về các tội được thực hiện trước khi người đó bị giao nộp nếu có sự đồng ý của quốc gia được yêu cầu. Pháp luật của nhiều quốc gia cho phép người bị yêu cầu dẫn độ từ bỏ quy tắc đặc biệt.

Nếu nhiều quốc gia yêu cầu dẫn độ cùng một người thì người đó có thể bị dẫn độ cho tất cả các quốc gia đó với điều kiện đáp ứng đầy đủ các điều kiện. Không có quy định cụ thể trong các điều ước dẫn độ về thứ tự ưu tiên dẫn độ trong trường hợp nhiều nước yêu cầu dẫn độ cùng một người. Khi quyết định sẽ dẫn độ cho nước nào, quốc gia được yêu cầu cân nhắc tính chất nghiêm trọng của các tội phạm, nơi thực hiện tội phạm, ngày gửi yêu cầu dẫn độ và khả năng dẫn độ tiếp theo. Nước mà người đó mang quốc tịch là điểm cuối cùng cần cân nhắc nếu đó là nước không dẫn độ công dân của mình.

• Khám xét và bắt người

Theo nguyên tắc, thủ tục dẫn độ ở Thuỵ Sỹ bắt đầu sau khi nhận được yêu cầu khám xét của Văn phòng Interpol quốc gia hoặc Bộ Tư pháp nước ngoài. Văn phòng Tư pháp (Phòng dẫn độ) kiểm tra tính hợp lệ của yêu cầu dẫn độ. Nếu biết được nơi ở của người bị dẫn độ tại Thuỵ Sỹ, Văn phòng Tư pháp (FOJ) ra lệnh cho lực lượng cảnh sát có thẩm quyền bắt người bị truy nã. Nếu không biết thì FOJ ghi tên người bị yêu cầu dẫn độ vào hệ thống tìm kiếm được vi tính hoá “ RIPOL” để bắt.

Cảnh sát bắt người bị truy nã và thông báo ngay cho FOJ. Khi tiến hành bắt, cảnh sát đồng thời thu giữ chứng cứ và tài sản do phạm tội mà có.

Có thể tiến hành thủ dẫn độ tục đơn giản nếu người bị bắt tuyên bố tại cuộc họp xem xét việc dẫn độ rằng người đó đồng ý bị dẫn độ ngay. FOJ được thông báo ngay về sự đồng ý đó của người bị yêu cầu dẫn độ và FOJ có thể, căn cứ vào sự đồng ý đó, cho phép dẫn độ và ra lệnh giao nộp người đó. Trong những trường hợp nhanh nhất, thủ tục dẫn độ đơn giản có thể được thực hiện chỉ trong vài giờ.

• Xử lý yêu cầu dẫn độ

Nếu người bị yêu cầu dẫn độ phản đối việc dẫn độ thì FOJ sẽ ra lệnh dẫn độ. Cùng lúc đó FOJ đề nghị quốc gia yêu cầu gửi yêu cầu dẫn độ chính thức. Theo quy định, quốc gia yêu cầu phải gửi yêu cầu dẫn độ chính thức cho FOJ trong thời hạn 18 ngày ngày. Thời hạn này có thể được gia hạn đến 40 ngày.

Thẩm phán điều tra hoặc cảnh sát bang xuất trình lệnh dẫn độ của FOJ cho người bị yêu cầu dẫn độ và ghi biên bản cuộc họp xem xét dẫn độ (thủ tục bằng lời – procès-verbal). Người bị yêu cầu dẫn độ có quyền liên hệ với đại diện cơ quan lãnh sự nước mình. Người đó có thể khiếu nại lệnh dẫn độ của Thuỵ Sỹ lên Toà án hình sự Liên bang; quyết định của Toà này có thể bị kháng cáo tiếp lên Toà án tối cao Liên bang. Người bị yêu cầu dẫn độ cũng có thể làm đơn xin trả tự do bất cứ lúc nào.

Nếu FOJ nhận được yêu cầu dẫn độ chính thức đúng thời hạn thì thời hạn tạm giam chờ dẫn độ được gia hạn cho đến khi kết thúc thủ tục dẫn độ. Nếu chấp nhận yêu cầu dẫn độ thì FOJ sẽ gửi yêu cầu dẫn độ cho bang có thẩm quyền để xem xét việc dẫn độ. Cơ quan có thẩm quyền của bang sẽ nghe người bị yêu cầu dẫn độ trình bày ý kiến của mình, sau đó giải thích cho người bị yêu cầu dẫn độ về thủ tục dẫn độ và ghi biên bản cuộc họp xem xét yêu cầu dẫn độ (procès-verbal).

Căn cứ vào biên bản cuộc họp và ý kiến của người bào chữa cho người bị yêu cầu dẫn độ, FOJ có thể ra quyết định dẫn độ. FOJ kiểm tra xem các điều kiện chính thức và cần thiết đã được đáp ứng hay chưa. FOJ sẽ xác định rõ là hành vi mà người bị yêu cầu dẫn độ bị cáo buộc có bị xử phạt theo pháp luật Thuỵ Sỹ hay không. Việc có tội hay vô tội và các tình tiết của vụ án sẽ không được quyết định trong thủ tục dẫn độ, có nghĩa là FOJ không kiểm tra xem người bị yêu cầu dẫn độ đã thực sự phạm tội nêu trong yêu cầu dẫn độ hay không.

Sau đó FOJ sẽ chính thức xuất trình quyết định dẫn độ của mình cho người bị yêu cầu dẫn độ. Nếu trong thời hạn 5 ngày mà người đó không tuyên bố sẽ khiếu nại thì việc dẫn độ được tiến hành. Người bị yêu cầu dẫn độ có thể kháng nghị lên Toà án hình sự Liên bang trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được tống đạt quyết định dẫn độ. Toà án hình sự Liên bang xem xét, quyết định về khiếu nại sau khi FOJ gửi ý kiến bằng văn bản của mình. Trong các trường hợp đặc biệt quan trọng, quyết định của Toà án hình sự Liên bang bị kháng cáo lên Toá án tối cao Liên bang.

• Thi hành

Nếu việc dẫn độ được cho phép thì FOJ ra lệnh thi hành. Liên quan đến các quốc gia láng giềng, theo quy định, người bị dẫn độ sẽ bị giao nộp tại biên giới. Việc giao nộp cho các quốc gia khác được thực hiện bằng đường hàng không; trong trường hợp này, người đó sẽ bị giao nộp cho hai sỹ quan cảnh sát của quốc gia yêu cầu tại một sân bay Thuỵ Sỹ.

Quốc gia yêu cầu phải nhận người đó trong thời hạn 10 ngày; trong các trường hợp ngoại lệ, thời hạn này có thể kéo dài thêm đến 30 ngày sau khi gửi thông báo về lệnh thi hành dẫn độ. Đồ vật và tài sản là chứng cứ hoặc do phạm tội mà có có thể được chuyển giao cùng lúc với việc giao nộp người bị dẫn độ.

Trong trường hợp xấu – nhất là trong các vụ án đặc biệt phức tạp liên quan đến tội phạm cổ cồn trắng và khi tất cả các thủ tục kháng nghị, kháng cáo đã được sử dụng, thủ tục dẫn độ bình thường có thể kéo dài hơn một năm.

• Yêu cầu dẫn độ của Thuỵ Sỹ

Các cơ quan có thẩm quyền của Thuỵ Sỹ, như FOJ (Phòng Dẫn độ) theo đề nghị của một cơ quan truy tố của bang hoặc Công tố viên của Liên bang, có thể bắt đầu thủ tục dẫn độ bằng một yêu cầu khám xét. Yêu cầu này do Intepol gửi đi và có thể được gửi trực tiếp cho nước nơi biết hoặc khả nghi là người bị truy nã đang có mặt.

Yêu cầu dẫn độ chính thức phải được gửi cho quốc gia được yêu cầu trong thời hạn quy định nếu người bị truy nã đã bị bắt. Thời hạn này dao động từ 18 ngày (Công ước châu Âu về Dẫn độ) đến 40 ngày (Hiệp định mới về Dẫn độ với Hoa Kỳ). FOJ lập yêu cầu dẫn độ của Thuỵ Sỹ dựa trên đề nghị của cơ quan có thẩm quyền của bang hoặc của Phòng Công tố Liên bang chịu trách nhiệm về nội dung của yêu cầu dẫn độ. FOJ hướng dẫn các cơ quan có thẩm quyền đó về nội dung và hình thức yêu cầu dẫn độ và là cơ quan trung gian làm việc với các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.

Yêu cầu dẫn độ gồm một công hàm ngoại giao của Đ ại sứ quán Thuỵ Sỹ tại quốc gia được yêu cầu (trong trường hợp liên hệ trực tiếp: Thư của FOJ gửi cho Bộ Tư pháp nước ngoài) và các tài liệu kèm theo yêu cầu: Lệnh bắt hoặc bản án, tài liệu riêng trình bày về tính tiết vụ án, các điều luật được áp dụng của Bộ luật hình sự v.v Ngoài ra, nhiều nước theo hệ thống pháp luật án lệ còn yêu cầu phải có hồ sơ chứng cứ trong đó bao gồm mọi lời khai của nhân chứng và các chứng cứ khác về nguyên nhân phạm tội của người bị yêu cầu dẫn độ.

Thủ tục dẫn độ ở nước ngoài được quy định trong pháp luật của quốc gia được yêu cầu. Có nhiều điểm khác biệt trong thủ tục này ở các nước khác nhau: tại một số nước thủ tục dẫn độ hoàn toàn do toà án tiến hành, nhưng ở các nước khác có sự phân chia vai trò giữa toà án và các cơ quan hành chính. Thủ tục thi hành dẫn độ (giao nộp) thì giống như ở Thuỵ Sỹ.

• Từ chối Dẫn độ

Thuỵ Sỹ không cho phép dẫn độ đối với các tội phạm chính trị (ví dụ, thành viên trong một đảng bất hợp pháp). Diệt chủng, không tặc hoặc bắt cóc con tin không được coi là tội phạm chính trị. Dẫn độ cũng bị từ chối nếu thủ tục tố tụng ở nước ngoài trái với các nguyên tắc của Công ước châu Âu về Nhân quyền hoặc được tiến hành nhằm truy tố hoặc trừng phạt một người ví lý do chính kiến, thành phần xã hội, quốc tịch, chủng tộc hoặc tôn giáo của người đó. Mặc dù vấn đề tội phạm chính trị đã được kiểm tra trong thủ tục dẫn độ nhưng các cơ quan chức năng quyết định vấn đề cư trú chính trị sẽ ra một quyết định riêng biệt.

Tội phạm chính trị thuần tuý được loại trừ khỏi việc dẫn độ. Tội phạm quân sự cũng vậy, ví dụ không tuân lệnh hoặc đào ngũ. Tội phạm hình sự thông thường (ví dụ như hiếp dâm) được thực hiện bởi một thành viên thuộc lực lượng vũ trang không được coi là tội phạm quân sự.

Dẫn độ cũng bị từ chối đối với tội phạm về tài chính khi tội phạm đó được thực hiện nhằm mục đích giảm tiền thuế phải nộp. Gian lận để được hưởng trợ cấp (ví dụ nhận được khoản tiền thanh toán bất hợp pháp từ Nhà nước bằng thủ đoạn khai man) không được coi là tội phạm về tài chính.

Giống như hầu hết các quốc gia châu Âu khác, Thuỵ Sỹ bảo lưu quyền từ chối dẫn độ công dân của mình.

Theo nguyên tắc, thủ tục tố tụng hình sự đã bị đình chỉ đối với cùng tội phạm đó tại quốc gia được yêu cầu sẽ có hiệu lực hơn so với việc dẫn độ. Nếu tội phạm đó đã bị kết án tại quốc gia được yêu cầu (nguyên tắc không xét xử hai lần về cùng một tội phạm “non bis in idem”), thì việc dẫn độ cũng bị từ chối. Ngoài ra, dẫn độ sẽ bị từ chối nếu người bị yêu cầu dẫn độ không thể bị truy tố do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

15. Các hình thức hợp tác khác

FOJ đã nhận được đề nghị về các hình thức hợp tác khác (ghi băng, ghi hình chứng cứ, kể cả lời khai của người làm chứng, hỏi bị can, khám xét và thu giữ, tống đạt giấy tờ v.v). FOJ sẽ xác định việc hợp tác có được phép hay không, tiến hành các công việc cần thiết và uỷ quyền cho một cơ quan có thẩm quyền của bang hoặc của Liên bang thực hiện đề nghị hợp tác. Những người bị cáo buộc trước Toà án không được quyền đòi bồi thường. Chỉ những người khác bị ảnh hưởng bởi các biện pháp tương trợ tư pháp quốc tế mới có quyền khiếu nại quyết định cuối cùng của FOJ. Bản thân FOJ có thể cho phép tiến hành điều tra trên lãnh thổ chủ quyền của Thuỵ Sỹ.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ - THS. ĐẶNG HOÀNG OANH – Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn

(MINH KHUE LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Thủ tục tố giác tội phạm ? Tải mẫu đơn tố giác tội phạm