NỘI DUNG TƯ VẤN
1. Hệ thống quốc tế:
Trong một nỗ lực nhằm hỗ trợ sự phát triển kinh doanh toàn cầu và quốc tế dựa trên phạm vi rộng lớn của nhãn hiệu và việc thừa nhận của người tiêu dùng đối với nhãn hiệu đã được cải thiện, những hệ thống bảo hộ quốc tế đối với nhãn hiệu đã được thiết lập. Ví dụ, một số nước có ý định khuyến khích hội nhập kinh tế và tự do lưu thông hàng hoá, dịch vụ giữa họ với nhau đã chấp thuận những hệ thống nhãn hiệu hàng hoá khu vực, chẳng hạn như các hệ thống do Cơ quan Nhãn hiệu hàng hoá Benelux và Cơ quan hài hoà thị trường nội khối (Nhãn hiệu hàng hoá và Kiểu dáng) (OHIM) - Cơ quan nhãn hiệu hàng hoá châu Âu - quản lý. Các hệ thống đó quy định về một đơn chung duy nhất, với ý nghĩa một trong nhữug lợi ích và mục tiêu chính của mình. Hoặc nói ngược lại, các hệ thống quốc tế đó tìm cách giảm bớt gánh nặng của việc nộp đơn đãng ký (và gia hạn) nhãn hiệu hàng hoá riêng lẻ ở tất cả các nước trên thế giới, nơi người nộp đơn muốn tiến hành việc kinh doanh có sử dụng nhãn hiệu đó.
Thêm vào đó, nhằm giảm nhẹ các yêu cầu khắt khe đối với việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá riêng lẻ với từng cơ quan quốc gia hoặc khu vực nơi người nộp đơn muốn kinh doanh, các nước Thành viên WIPO đã thông qua Hiệp ước Luật Nhãn hiệu hàng hoá (TLT) vào năm 1994. TLT có mục tiêu là làm đơn giản các thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hoá. Những hệ thống khác đang tồn tại là Tổ chức SHTT châu Phi (OAPI) và Tổ chức Sở hữu công nghiệp khu vực châu Phi (ARIPO). Đó là những hệ thống đăng ký tập trung, áp dụng các thủ tục chung và hệ thống pháp luật thống nhất ở các nước thành viên và được thiết kế để thúc đẩy, phát triển khuôn khổ bảo hộ đã được làm hài hoà ở các nước tham gia các điều ước đó.
Hai điều ưóc quốc tế nhằm thiết lập hệ thống đăng ký quốc tế đối với nhãn hiệu đã được hoàn tất thông qua WIPO, cụ thể là Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu (1891) và Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu (1989) (gọi chung là hệ thống Madrid). Hệ thống Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu có thể được sử dụng bởi cá nhân và công ty được thành lập hoặc thường trú, hoặc là công dân, ở các nước tham gia hệ thống Madrid (70 thành viên, tính đến tháng 2 năm 2002).
Quá trình được bắt đầu hoặc là bằng việc nộp đơn yêu cầu đăng ký, hoặc là bằng việc đãng ký nhãn hiệu trong đăng bạ nhãn hiệu hàng hoá quốc gia. Đây là yêu cầu tiên quyết đối với việc đăng ký theo hệ thống Madrid, vì người nộp đơn không thể gửí đơn trực tiếp đến WIPO, mà phải được cơ quan nhãn hiệu hàng hoá quốc gia xử lý. Một khi bước khởi đầu này được thực hiện, WIPO sẽ đăng ký nhãn hiệu trong Đăng bạ quốc tế và thông báo việc đăng ký cho tất cả các nước nơi nhãn hiệu hàng hoá đã được yêu câu bảo hộ. Thông qua cơ quan nhãn hiệu hàng hoá của mình, mọi quốc gia được chỉ định đều có quyền từ chối bảo hộ (một phần hoặc toàn bộ), với lý do tồn tại những quyền phát sinh trước hoặc nhãn hiệu xung đột với bất kỳ yêu cầu nào của quốc gia. Trừ khi việc từ chối được thông báo trong một thời hạn xác định (12 đến 18 tháng), sự bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hoá tựđộng được chấp thuận. Sự bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá cấp qua hệ thống Madrid tương đương với sự bảo hộ dành cho bất kỳ nhãn hiệu nào khác được đăng ký trực tiếp tại các cơ quan quốc gia. Thời hạn bảo hộ ban đầu đối với một đăng ký quốc tế là mười năm. Nó có thể được gia hạn nhiều lần mỗi lần mười năm, với điều kiện nộp phí theo quy định.
2. Ưu điểm của hệ thống Madrid:
2.1 Khái quát chung:
Đãng ký quốc tế có những ưu điểm đối với chủ sở hữu của một nhãn hiệu. Sau khi đăng ký nhãn hiệu hoặc nộp đơn đãng ký nhãn hiệu với cơ quan sở hữu trí tuệ của nước xuất xứ, chủ sở hũư sẽ chỉ cần nộp một đơn, bằng một thứ tiếng và trà một khoản phí, thay vì nộp đơn riêng rẽ đến các cơ quan nhãn hiệu hàng hoá ở những nước khác nhau, bằng ngôn ngữ khác nhau và nộp phí riêng lẻ cho mỗi đơn.
Lợi điểm quan trọng hơn là những thay đổi sau khi đăng ký có thể được hoàn tất thông qua một thủ tục duy nhất và nộp một khoản phí duy nhất, chẳng hạn như một sự thay đổi về tên hoặc địa chỉ của chủ sở hữu, hoặc sự thay đổi (toàn bộ hoặc một phần) về quyền sở hữu hoặc sự hạn chế áp dụng đối với danh mục hàng hoá hoặc dịch vụ. Hơn nữa, chỉ có một ngày hết hạn và chỉ có một đăng ký cần gia hạn.
Đăng ký quốc tế theo hệ thống Madrid cũng có lợi cho cơ quan sở hữu trí tuệ Các cơ quan đó không cần phải tiếp tục xem xét sự đáp ứng các yêu cầu về hình thức của đơn quốc tế, hoặc không cần phân loại hàng hoá hoặc dịch vụ, vì các nhiệm vụ đó sẽ được Văn phòng quốc tế của WIPO hoàn tất, đồng thời Văn phòng cũng sẽ công bố các nhãn hiệu trong thời hạn thích hợp. Hơn nữa, các cơ quan được đền đáp về công việc mà họ thực hiện theo hệ thống Madrid; một phần của tổng số các khoản phí do Văn phòng quốc tế thu được phân bổ và trả lại cho cấp bên tham gia liên quan đến những đơn nhãn hiệu hàng hoá trong đó họ được chỉ định . Các khoản phí này được phân phối hàng năm cho các bên tham gia.M Tính cho năm 2001, Văn phòng quốc tế đã phân phối tổng số 72 triệu Phờ-răng Thụy Sỹ từ các khoản phí thu được. Thêm vào đó, nếu Liên hiệp Madrid kết thúc tài khoá hai năm với một khoản lợi nhuận thì các khoản thu sẽ được phân chia và trỏ cho các bên tham gia.
2.2 Phí riêng theo nghị định thư Madrid:
Đơn vị tính được sử dụng trong số liệu của bảng được tính theo Phờ răng Thụy Sỹ trong tháng 5/2020.
| Benelux Trung Quốc | 189 cho ba nhóm, cộng thêm 17 cho mỗi nhóm bổ sung 345 cho một nhóm, cộng thêm 172 cho mỗi nhóm bổ sung | 309 cho ba nhóm, cộng thêm 55 cho mỗi nhóm bổ sung 690 cho một nhóm, cộng thêm 345 cho mồi nhóm bổ sung |
| Đan Mạch | 487 cho ba nhóm, cộng thêm 124 cho mỗi nhóm bổ sung | 487 cho ba nhóm, cộng thêm 124 cho mỗi nhóm bổ sung |
| Estonia | 291 cho mỗi nhóm, cộng thêm 104 cho mỗi nhóm bổ sung | 291 không phụ thuộc vào số nhóm |
| Italia | 112 cho một nhóm, cộng thêm 37 cho mỗi nhóm bổ sung | 75 cho một nhóm, cộng thêm 37 cho mỗi nhóm bổ sung |
| Nhật Bản | 1.139 cho một nhóm, cộng thêm 1.075 cho mỗi nhóm bổ sung | 2.005 cho mỗi nhóm |
| Sing-ga-po | 260 cho mỗi nhóm | 183 cho mỗi nhóm |
| Thụy Sỹ | 600 cho hai nhóm, cộng thêm 50 cho mỗi nhóm bổ sung | 600 cho hai nhóm, cộng thêm 50 cho mỗi nhóm bổ sung |
| Turkmenistan | 320 cho một nhóm, cộng thêm 160 cho mới nhóm bổ sung | 320 cho một nhóm, cộng thêm 160 cho mồi nhóm bổ sung |
| Vương quốc Anh | 454 cho mỗi nhóm, cộng thêm 126 cho mỗi nhóm bổ sung | 504 cho một nhóm, cộng thêm 126 cho mồi nhóm bổ sung |
3. Quyền tác giả:
Hệ thống quyền tác giả đơn giản hơn các hệ thống liên quan đến bằng độc quyền sáng chế và nhãn hiệu, vì yêu cầu về hình thức (như đãng ký và nộp lưu) để được hưởng và thực hiện quyền tác giả bị loại bỏ bằng pháp luật theo Công ước Berne. Một số nước có thủ tục đãng ký và phương tiện nộp lưu dưới dạng tuỳ chọn, nhằm mục đích khẳng định và kiểm chúng quyền và lợi ích, chứng cứ trong trường hợp tranh tụng hoặc xử lý xâm phạm cũng như sử dụng trong công việc tài chính và đầu tư.
Số liệu thống kê về đăng ký thường không có. Tuy nhiên, Cơ quan Quyền tác giả của Hoa Kỳ lưu giữ các hồ sơ đó và đạt chúng trong trạng thái tiếp cận được một cách công khai. Trong trường hợp này, chúng thu hút sự chú ý vì trong khi đãng ký và nộp lưu thường là sự lựa chọn (như yêu cầu theo Công ước Berne và Hiệp ding TRIPS) thì các số liệu thống kê lại phản ánh hoạt động của các ngành công nghiệp quyền tác giả bận rộn nhất trên thế giới. Ví dụ, trong năm tài chính 2000, Cơ quan Quyền tác giỏ Hoa Kỳ đã hoàn thành 515.612 đăng ký quyền tác giả. Từ lúc thành lập vào năm 1790 đến năm 2000, Cơ quan này đã thực hiện 29.131.112 đăng ký (hầu hết là cho các tác phẩm có nộp lưu). Đây là một kho lưu trữ có những bộ phận đa dạng khổng lồ, phản ánh lịch sử văn hoá và sáng tạo của cả một đất nước. Thậm chí Điều còn quan trọng hơn đó là kho lưu trữ này được công khai, có thể tra cứu và sẵn sàng phục vụ giới nhà giáo, nghiên cứu học thuật, sinh viên, doanh nhân và luật sư, bên cạnh những người khác.
Trong khi không đánh giá thấp đi giá trị và lợi ích hiển nhiên mà chúng ta đã và đang chứng kiến trong các ngành công nghiệp văn hoá, có lẽ đã đến lúc cần phải xem xét một hệ thống đăng ký và nộp lưu tác phẩm dạng tuỳ chọn từ góc độ cách thức mà các tác phẩm đó ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Không thể thiết lập hoặc vận hành một hệ thống quản lý tập thề khi không có một hệ thống rõ ràng để xác định những tác phẩm cần được quản lý. Một hệ thống đơn giản và hiệu quả về chi phí để đăng ký tác phẩm và nộp lưu các tác phẩm đó là một phương thức mà nhờ đó hiệp hội quản lý tập thể có khả năng khởi sự ở những nước hiện chưa có tổ chức nào như thế hoạt động. Vốn và ca-ta-lô tác phẩm địa phương có thể là cơ sở cho việc li-xăng các tác phẩm đó để biểu diễn công cộng và do đó là bản đạp đối với giải nhạc công, người viết ca khúc, công ty ghi âm và nhà phân phối địa phương. Nói ngắn gọn, các ngành công nghiệp địa phương có thể được nuôi dưỡng để trở thành các ngành công nghiệp quốc gia, thậm chí khu vực.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê