- 1. Khái quát chung về cầm cố tài sản
- 1.1. Khái niệm cầm cố tài sản?
- 2. Đặc điểm của cấm cố tài sản
- 3. Quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản
- 3.1. Nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản
- 3.2. Quyền của bên cầm cố tài sản
- 4. Quyền và nghĩa vụ của bên nhận cầm cố tài sản
- 4.1. Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố tài sản
- 4.2. Quyền của bên nhận cầm cố tài sản
1. Khái quát chung về cầm cố tài sản
1.1. Khái niệm cầm cố tài sản?
Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
"Điều 309. Cầm cố tài sản
Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ."
Như vậy, có thể thấy, cầm cố tài sản là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu cho bên kia để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Biện pháp cầm cố được quy định từ Điều 309 và Điều 316 BLDS năm 2015.
2. Đặc điểm của cấm cố tài sản
Cầm cố tài sản mang đầy đủ những đặc điểm chung của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự như mang tính chất dự phòng, chỉ áp dụng khi nghĩa vụ chính không thể hoàn thành, nhằm bổ sung cho nghĩa vụ chính, được hình thành từ sự thỏa thuận của các bên thì cầm cố có những đặc điểm riêng biệt của nó
- Hợp đồng cầm cầm cố là hợp đồng thực tế
Hợp đồng thực tế là hợp đồng mà thời điểm phát sinh hiệu lực chính là thời điểm các bên chuyển giao tài sản. Theo Khoản 1 Điều 310 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì hợp đồng cầm cố tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
- Bên cầm cố chỉ chuyển giao tài sản cầm cố chứ không chuyển giao giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản.
Bên cầm cố chỉ chuyển giao quyền nắm giữ, quản lý tài sản cầm cố trừ trường hợp các bên thỏa thuận về việc bên nhận cầm cố được quyền sử dụng tài sản cầm cố trong thời hạn có hiệu lực của biện pháp cầm cố.
- Quyền sử dụng tài sản cầm cố bị hạn chế trong suốt thời gian có hiệu lực của biện pháp cầm cố.
Theo quy định, bên cầm cố phải chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố nắm giữ. Bên nhận cầm cố chỉ được quyền quản lý tài sản cầm cố mà không được quyền sử dụng tài sản cầm cố nếu không được bên nhận cầm cố cho phép. Bởi lẽ đó, nếu không có thỏa thuận thì trong suốt thời gian tồn tại biện pháp cầm cố, tài sản cầm cố không được phát huy được công dụng vốn có của nó khi việc khai thác công dụng của tài sản bị hạn chế do những quy định của pháp luật.
3. Quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản
Bên cầm cố là bên phải giao tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ. Thông thường, bên cầm cố là bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm cố đó. Trong nhiều trường hợp khác, người cầm cố có thể là người thứ ba. Người thứ ba cầm cố tài sản là người không thuộc các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm giao tài sản của mình cho bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ đó.
3.1. Nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản
Căn cứ Điều 311 BLDS 2015 quy định:
"Điều 311. Nghĩa vụ của bên cầm cố
1. Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận.
2. Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền hủy hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố.
3. Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."
Từ quy định của pháp luật về nghĩa vụ của bên cầm cố có thể khẳng định:
Thứ nhất, giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận. Có thể thấy, quyền này không xuất phát từ giao dịch cầm cố. Bởi lẽ, biện pháp cầm cố phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm bên nhận cầm cố chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố nắm giữ. Do đó, nếu bên cầm cố không chuyển giao tài sản thì biện pháp cầm cố không phát sinh hiệu lực, đồng nghĩa với việc bên cầm cố không phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ nào đối với bên nhận cầm cố.
Thứ hai, báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố. Có thể thấy, nghĩa vụ không xuất hiện trong tất cả các giao dịch cầm cố phát sinh trên thực tế. Chỉ những trường hợp tài sản cầm cố là tài sản có liên quan đến quyền và lợi ích của người thứ ba thì bên cầm cố có nghĩa vụ này.
Thứ ba, thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hơp lý để bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Bên cầm cố có phải thực hiện nghĩa vụ này hay không phụ thuộc vào hai yếu tố. Thứ nhất, việc quản lý tài sản có phát sinh chi phí hay không. Thứ hai, các bên có thỏa thuận khác về việc phải thanh toán chi phí hay không. Nếu bên cầm cố phải thực hiện nghĩa vụ này thì thời điểm thực hiện nghĩa vụ thanh toán chi phí chính là thời điểm chấm dứt biện pháp cầm cố. Bởi vì, đến thời điểm này, những chi phí phát sinh liên quan đến việc bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố mới được xác định cụ thể. Tuy nhiên, các bên cũng có thể thỏa thuận về thời điểm thanh toán chi phí này trước khi chấm dứt biện pháp cầm cố tài sản.
3.2. Quyền của bên cầm cố tài sản
Điều 312 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
"Điều 312. Quyền của bên cầm cố
1. Yêu cầu bên nhận cầm cố chấm dứt việc sử dụng tài sản cầm cố trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 314 của Bộ luật này nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.
2. Yêu cầu bên nhận cầm cố trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt.
3. Yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố.
4. Được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố nếu được bên nhận cầm cố đồng ý hoặc theo quy định của luật."
Theo quy định về quyền của bên cầm cố, có thể thấy:
Thứ nhất, yêu cầu bên nhận cầm cố đình chỉ việc sử dụng tài sản cầm cố theo quy định tại Khoản 3 Điều 314 BLDS 2015, nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị. Quyền này chỉ phát sinh trong trường hợp bên cầm cố cho phép bên nhận cầm cố được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản cầm cố. Nếu bên cầm cố không cho phép bên nhận cầm cố sử dụng tài sản cầm cố, mà tài sản cầm cố bị giảm sút giá trị thì bên cầm cố thực hiện quyền yêu cần bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu bên nhận cầm cố giao tài sản cho mình để tiến hành xử lý kịp thời.
Thứ hai, được bán tài sản cầm cố trong một số trường hợp nhất định. Quyền bán tài sản cầm cố chỉ xuất hiện khi thật cần thiết nhằm bảo toàn giá trị của tài sản cầm cố. Nên cầm cố được bán tài sản trong ba trường hợp:
+ Bên nhận cầm cố đồng ý cho bán.
+ Tài sản cầm cố bị hư hỏng, giảm sút giá trị một cách nghiêm trọng.
+ Tài sản cầm cố là sản phẩm của quá trình luân chuyển trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, bên cầm cố còn có các quyền như thay thể tài sản cầm cố bằng một tài sản nếu có thỏa thuận; yêu cầu bên nhận cầm cố trả lại tài sản cầm cố khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm vô hiệu. Đồng thời, bên cầm cố cũng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu tài sản cầm cố do bên nhận cầm cố quản lý bị thiệt hại.
4. Quyền và nghĩa vụ của bên nhận cầm cố tài sản
Bên nhận cầm cố là bên nhận tài sản từ bên cầm cố để bảo đảm cho quyền và lợi ích của mình trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ nghĩa vụ. Bên nhận cầm cố bao giờ cũng là bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm cố đó.
4.1. Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố tài sản
Điều 313 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
"Điều 313. Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố
1. Bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố; nếu làm mất, thất lạc hoặc hư hỏng tài sản cầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố.
2. Không được bán, trao đổi, tặng cho, sử dụng tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác.
3. Không được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác."
Về cơ bản, quy định pháp luật về nghĩa vụ của bên nhận cầm cố có sự đối ứng với các nghĩa vụ của bên cầm cố. Cụ thể:
Thứ nhất, bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố. Nghĩa vụ này là nghĩa vụ cơ bản của bên nhận cầm cố trong mọi giao dịch cầm cố được xác lập trên thực tế. Trong trường hợp bên nhận cầm cố ủy quyền cho bên thứ ba quản lý tài sản cầm cố thì bên nhận cầm cố ủy quyền cho bên nhận cầm cố phải chịu trách nhiệm trước bên cầm cố về việc bảo quản tài sản cầm cố.
Thứ hai, không được phép sử dụng, định đoạt tài sản cầm cố nếu không được bên cầm cố đồng ý. Về bản chất, giao dịch cầm cố không phải là một giao dịch chuyên quyền định đoạt tài sản cầm cố. Vì thế, nếu không có sự đồng ý của bên cầm cố. mọi hành vi nhằm sử dụng hoặc định đoạt tài sản cầm cố của bên nhận cầm cố đều là trái pháp luật, xâm phạm nghiệm trọng quyền sở hữu tài sản của bên cầm cố hoặc người thứ ba (trong trường hợp tài sản cầm cố không thuộc sở hữu của bên cầm cố).
Thứ ba, phải trả lại tài sản cầm cố khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản cầm cố chấm dứt hoặc thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác. Nghĩa vụ này được thực hiện khi biện pháp bảo đảm không còn tồn tại trong mọi biện pháp cầm cố không thực hiện được nghĩa vụ, tài sản cầm cố bị xử lý, biện pháp cầm cố cũng chấm dứt nhưng bên nhận cầm cố không phải thực hiện nghĩa vụ trả lại tài sản cầm cố.
4.2. Quyền của bên nhận cầm cố tài sản
Điều 314 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
"Điều 314. Quyền của bên nhận cầm cố
1. Yêu cầu người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản đó.
2. Xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thỏa thuận.
4. Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản cho bên cầm cố."
Quyền của bên nhận cầm cố tài sản cũng có sự tương quan với quyền của bên cầm cố tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thứ nhất, yêu cầu người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản đó. Đây là một trong các quyền của chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp tài sản.
Thứ hai, xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật để khẩu trừ ghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Đây là một trong cái loại vật quyền của bên nhận cầm cố. Quyền này cũng được thỏa mãn thông qua việc tác động vào tài sản cầm cố chứ không phụ thuộc vào hành vi của bên cầm cố tài sản.
Thứ ba, được khai thác công dụng của tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố nếu được bên cầm cố cho phép. Mặc dù, bên nhận cầm cố chỉ được thực hiện quyền này nếu bên cầm cố đồng ý, nhưng quyền này cũng là một loại vật quyền, bởi quyền này cũng được thỏa mãn thông qua việc tác động trực tiếp vào tài sản chứ không phải thông qua hành vi của bên cầm cố tài sản.
Thứ tư, được thanh toán chi phí hơp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản cho bên cầm cố. Đây là một loại trái quyền vì quyền này chỉ được thỏa mãn khi bên cầm cố thực hiện nghĩa vụ thanh toán chi phí.