1. Rủi ro hệ thống là gì?

Rủi ro hệ thống (SYSTEMIC RISK) là khả năng thất bại của một ngân hàng trong dàn xếp các giao dịch ròng với các ngân hàng khác sẽ kích hoạt một phản ứng dây chuyền, loại bỏ các ngân hàng quỹ khác và thay vào đó ngăn chặn họ khóa các vị thế. Nếu diễn ra theo đúng logic, có khả năng là các định chế không có giao dịch kinh doanh với ngân hàng phá sản, cuối cùng cũng sẽ chịu tác động bởi sự khóa sổ của hoạt động thanh lý và thanh toán thông thường, một tình huống được biết đến như sự nghẽn mạng (gridlock) của hệ thống thanh toán. Các mạng lưới thanh toán số tiền lớn có các nguyên tắc đặc biệt được thiết kế để ngăn chặn sự thất bại thanh toán trên toàn hệ thống.

 

2. Đặc điểm rủi ro có hệ thống

+ Rủi ro có hệ thống vừa không thể đoán trước và vừa không thể tránh được hoàn toàn. Nó không thể giảm thông qua đa dạng hoá mà chỉ thông qua bảo hiểm rủi ro hoặc bằng cách sử dụng chiến lược phân bổ tài sản chính xác.

+ Phân bổ tài sản là một chiến lược đầu tư nhằm cân bằng rủi ro và phần thưởng bằng cách phân bổ tài sản của danh mục đầu tư theo mục tiêu, khả năng chấp nhận rủi ro và thời hạn đầu tư của một cá nhân. Ba loại tài sản chính-cổ phiếu, thu nhập cố định và tiền và các khoản tương đương- có mức độ rủi ro và lợi tức khác nhau, do đó mỗi loại sẽ hoạt động khác nhau theo thời gian.

+ Rủi ro hệ thống là cơ sở cho các rủi ro đầu tư khác

Ví dụ: nếu một nhà đầu tư quá chú trọng vào cổ phiếu an ninh mạng, có thể đa dạng hoá bằng cách đầu tư vào một loạt cổ phiếu trong các lĩnh vực khác như chăm sóc sức khoẻ và cơ sở hạ tầng. Tuy niên rủi ro hệ thống bao gồm những thay đổi về lãi suất, lạm phát, suy thoái và chiến tranh. Những sự thay đổi này có thể ảnh hưởng tới toàn bộ thị trường và không thể giảm thiểu bằng cách thay đổi vị trí trong danh mục cổ phiếu đại chúng.

Các nhà đầu tư nên bảo đảm danh mục đầu tư của họ gồm nhiều loại tài sản khác nhau như thu nhập cố định, tiền mặt và bất động sản, mối loại sẽ có những phản ứng khác nhau trong trường hợp có sự thay đổi hệ thống lớn. 

Ví dụ: Khi tăng lãi suất sẽ làm cho một số trái phiếu phát hành mới có giá trị hơn, đồng thời khiến cho số cổ phiếu công ty giảm giá do các nhà đầu tư cho rằng các nhóm điều hành đang cắt giảm chi tiêu. Trong trường hợp lãi suất tăng, việc đảm bảo một danh mục đầu tư kết nối các chứng khoán tạo thu nhập dồi dào sẽ làm giảm thiểu sự mất giá trị của một số cổ phiếu.

 

3. Một số ví dụ  thực tế về rủi ro hệ thống

Ví dụ 1: Năm 2018 hàng loạt cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam giảm mạnh, nguyên nhân tới từ các yếu tố rủi ro hệ thống như:

+ Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung dẫn tới sự bất ổn vĩ mô

+ Đồng USD trên đà tăng trưởng mạnh, kéo theo các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn để bảo toàn lợi nhuận đang bị giảm do sự mất giá của đồng Việt Nam.

Ví dụ 2: Năm 2008 bất kì ai khi đầu tư vào thị trường đều thây giá trị các khoản đầu tư của họ có sự thay đổi mạnh mẽ từ sự kiện kinh tế đại suy thoái. Đại suy thoái ảnh hưởng đến các loại tài sản theo những cách khác nhau, chứng khoán rủi ro hơn nên bị bán tháo với số lượng lớn, trong khi các tài sản đơn giản hơn như trái phiếu khô bạc Hoa Kì trở nên nó giá trị hơn.

 

4. Phân loại rủi ro hệ thống

+ Rủi ro lãi suất: là khả năng biến động của mức sinh lời do những thay đổi của lãi suất trên thị trường gây ra.

Trong thực tế các nhà đầu tư sẽ coi tín phiếu kho bạc là không có rủi ro, vì vậy lãi suất của tín phiếu thường dùng làm mức chuẩn để xác định lãi suất của các loại trái phiếu công ty có kì hạn khác nhau.

Quan hệ lãi suất với giá cổ trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi là mối quan hệ tỉ lệ nghịch. Mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu thường là gián tiếp và luôn thay đổi.

Nguyên nhân chủ yếu tới từ luồng thu nhập từ cổ phiếu thường có thể thay đổi theo lãi suất, nhưng chúng ta không thể chắc chắn được sự thay đổi đó là cùng hay ngược chiều với sự thay đổi của lãi suất.

Phân tích mối quan hệ giữa lạm phát, lãi suất và giá cổ phiếu thường là vấn đề đòi hỏi nhà đầu tư phải có kinh nghiệm và cần được xem xét theo từng thời kì.

+ Rủi ro thị trường: đây là sự thay đổi mức sinh lời do sự đánh giá và ra quyết định của các nhà đầu tư trên thị trường.

Trên thị trường, giá cả các loại chứng khoán có thể dao động mạnh mặc dù thu nhập của công ty vẫn không thay đổi. Nguyên nhân tới từ việc nhìn nhận và phản ứng của các nhà đầu tư có thể khác nhau về từng loại hoặc nhóm cổ phiếu. Có hai nhóm sự kiện được các nhà đầu tư quyết định việc mua bán chứng khoán đó là dựa vào các sự kiện hữu hình ví dụ như các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội và nhóm các sự kiện vô hình do yếu tố tâm lý của thị trường.

+ Rủi ro sức mua: là rủi ro do tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư, yếu tố lạm phát hay giảm phát làm thay đổi mức lãi suất danh nghĩa và từ đó tác động đến giá của các chứng khoán trên thị trường.

+ Rủi ro tỉ giá: rủi ro tỉ giá là rủi ro do tác động của tỉ giá đối với khoản đầu tư. Khi các nhà đầu tư cho rằng đồng nội tệ có thể bị giảm giá trong tương lai thì nhà đầu tư đó quyết định không đầu tư vào chứng khoán hoặc sẽ tìm cách thay thế chứng khoán bằng tài sản ngoại tệ vì khi đo giá trị chứng khoán sẽ bị giảm.

 

5. Rủi ro không có hệ thống

Rủi ro không có hệ thống tiếng anh gọi là Unsystermatic risk, đây là loại rủi ro chỉ có tác động đến một chứng khoán hoặc một nhóm nhỏ các chứng khoán. Loại rủi ro này do các yếu tố bên trong công ty gây ra và có thể kiểm soát được.

+ Rủi ro kinh doanh: là rủi ra do sự thay đổi về tình hình cung cầu hàng hoá hay dịch vụ của doanh nghiệp hay là sự thay đổi bất lợi về môi trường kinh doanh.

+ Rủi ro tài chính: là những rủi ro về khả năng thanh toán trái tức, cổ tức và hoàn vốn cho người sở hữu chứng khoan. Rủi ro tài chính liên quan đến sự mất cân đối giữa doanh thu, chi phí và các khoản nợ của doanh nghiệp..

+ Rủi ro quản lý: là rủi ro do tác động các quyết định từ nhà quản lý doanh nghiệp.

+ Biến động thị trường: Biến động thị trường là sự tăng và giảm giá trị của các khoản đầu tư hằng ngày trong một khoảng thời gian nhất định.

+ Rủi ro lạm phát: Rủi ro lạm phát là rủi ro khi sự tăng giá hàng hoá và dịch vụ sẽ dẫn tới mất khả năng mua sắm. 

Ví dụ: Khi bạn là người sợ rủi ro, thay vì đầu tư sinh lợi, bạn cất tiền trong nhà nhưng bạn vẫn bị rủi ro lạm phát, giá cả những gì bạn mua sẽ đắt hơn, chúng ta có thể dùng các biện pháo giảm ảnh hưởng của lạm phát. Không một ai có thể tránh được sự lạm phát, lạm phát gây nhiều ảnh hưởng đối với người về hưu và những người sống với thu nhập cố định.

Trên đây là một số thông tin liên quan đến rủi ro hệ thống mà Luật Minh Khuê gửi tới bạn đọc. Hi vọng đây là những thông tin hữu ích giành cho bạn.