1. Giới thiệu tác giả
Cuốn sách "Phong cách đàm phán ngoại giao" do TS. Vũ Dương Huân biên soạn.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Phong cách đàm phán ngoại giao
Tác giả: TS. Vũ Dương Huân
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật
3. Tổng quan nội dung sách
4. Đánh giá bạn đọc
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Phong cách đàm phán ngoại giao".
Dưới đây là nội dung trích dẫn trong cuốn sách để bạn đọc tham khảo:
Khái niệm đàm phán
Từ góc độ xã hội học, đàm phán là một lĩnh vực thuộc mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp xã hội và mọi nền văn hóa diễn ra hằng ngày, liên quan đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội.Dưới góc độ giao tiếp, đàm phán là quá trình mỗi bên thông gia ngôn ngữ để bày tỏ quan điểm, tìm cách thuyết phục người đối thoại hay bị phương, đối tác vì một mục đích nhất định và các bên có thể đi đến thỏa thuận sau khi đã nhân nhượng, trao đổi với nhau.Như vậy, đàm phán là một hành vi giao tiếp nhằm mục đích đạt được thỏa thuận giữa các bên. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi giao tiếp có mục đích đều được coi là đàm phán đổi lời nói giữa các pháp nhân đại diện cho quyền lợi của một cộng đồng mới được thừa nhận là đàm phán."Đàm" có nghĩa là thảo luận, "Phán" có nghĩa là ra quyết định. Từ nhiều khía cạnh khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những định nghĩa về đàm phán khác nhau. Có người cho rằng, đàm phán là một phương tiện căn bản để đạt được cái mà người ta muốn từ người khác, là chiến thuật không dùng bạo lực nhằm giải quyết vấn đề có lợi nhất, có thể cải thiện tình hình hơn là không đàm phán. Ý kiến khác nhấn mạnh, đàm phán là nhằm phân phối nguồn tài nguyên có giới hạn hoặc sáng tạo một nguồn tài nguyên mới mà khi nào có thể thực hiện được bằng chính nguồn lực của mình hoặc giải quyết vấn đề hay cuộc tranh cãi giữa các bên. Lại có nhận thức đàm phán là một quá trình mà các bên cùng đưa ra quyết định mà họ có thể chấp nhận được, cùng thống nhất về những việc làm trong tương lai và cách thức giải quyết vấn đề.Đàm phán xuất hiện từ lâu, song chỉ trở thành khoa học trong thế kỷ 20, dựa trên tri thức của nhiều ngành khoa học khác nhau như chính trị học, xã hội học, tâm lý học .... Trong khoa học đàm phán nhấn mạnh các công cụ lý thuyết để phân tích và dự đoán hành vi cùng sự vận động của các mối quan hệ giữa các chủ thể, trên cơ sở đó xây dựng các mô hình ứng dụng dưới dạng chiến lược, sách lược, chiến thuật, kĩ thuật đàm phán.Đồng thời, đàm phán cũng được coi là nghệ thuật khi nhà đàm phán nắm chắc và vận dụng thành thạo, sáng tạo kỹ năng đàm phán nếu khoa học đàm phán nhấn mạnh tư duy hệ thống, chính xác, logic, thì nghệ thuật đàm phán coi trọng sự thành thục, tinh tế trong sử dụng các kỹ năng và khả năng sáng tạo, ngẫu hứng, đột biến để vượt qua tình huống thích thức.Nghệ thuật đàm phán ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả đàm phán. Ở góc độ thực tiễn, nghệ thuật đàm phán là nghệ thuật sử dụng các kỹ năng sẵn có, cùng các kỹ năng xử lý quan hệ xã hội, kỹ năng lắng nghe thuyết phục, kỹ năng trình bày, kỹ năng xây dựng lập luận, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phản biện, giải quyết vấn đề vào việc vận dụng một cách hợp lý chiến lược, chiến thuật, kĩ thuật, mô hình đàm phán và hoàn cảnh cụ thể nhằm đối phó với những thay đổi.Vậy đàm phán là gì? Đàm phán là hành vi giao tiếp tự nguyện hoặc có chủ ý, diễn ra trong một bối cảnh không gian, thời gian nhất định, được quy định bởi những quy tắc pháp lý chặt chẽ, trong đó mỗi pháp nhân thông qua ngôn ngữ và các thủ thuật giao tiếp tìm cách làm cho quan điểm của mình thắng thế nhằm đạt được thỏa thuận.Nội hàm của triết lý ngoại giao truyền thốngTriết lý ngoại giao truyền thống Việt Nam có những nội dung chính sau đây.Thứ nhất, coi trọng hòa hiếu với các nước, các dân tộc khác trên thế giới, trước hết là các nước láng giềng.Đây là bản chất của dân tộc Việt Nam, tư tưởng lớn, cơ bản, có tính chất chủ đạo của ngoại giao truyền thống Việt Nam. Vì hoà bình là khát vọng của của mỗi con người, bất kỳ dân tộc nào và của cả nhân loại, bởi trong thực tế tồn tại mầy nghìn năm qua, loài người chưa bao giờ được sống trong một thế giới hòa bình. Giải thích về nguồn gốc khát vọng đó, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau. Ấy là dân nào cũng ưa sự lành ghét sự dữ”. Muốn có hòa bình lâu dài phải tạo lập trước hết một nền văn hóa hoà bình mà linh hồn của văn hóa hòa bình chính là lòng nhân ái, khoan dung. Hồ Chí Minh nhận xét: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái”. Văn minh của người Việt chính là văn minh nông nghiệp, văn hóa lúa nước với tính cách là điển hình của văn hóa sản xuất vật chất ở Việt Nam từ thời xa xưa. Nghề trồng lúa nước buộc con người phải sống phụ thuộc, giao hòa với đất, với nước theo thời tiết thiên nhiên. Từ chỗ ứng xử chênh với tự nhiên đi đến thế ứng xử hòa điệu với tự nhiên ở miền đất thấp, miền đồng bằng châu thổ, theo khí hậu, theo nhịp mùa đi, theo địa hình cao thấp, theo điều kiện đất đai thổ nhưỡng phì nhiêu hay chua mặn… Trong sản xuất nông nghiệp, trong cách ăn, ở, mặc… người Việt Nam đều thể hiện sự thích nghi, hòa hợp với tự nhiên.Đó chính là cội nguồn của tư tưởng hòa hiếu của người Việt. Trong kháng chiến chống quân Tống xâm lược vào đầu năm 1077, quân Đại Việt đã chặn đứng được 10 vạn quân Tống tại phòng tuyến sông Cầu. Nhiều lần, quân Tống cố vượt sông song đều thất bại. Tình hình khốn đốn vì nhiều quân lính đã bị tiêu diệt và thời tiết nóng nực đến gần, Lý Thường Kiệt quyết định “dùng biện sỹ giảng hòa. Không nhọc tướng tá khỏi tốn máu mủ mà bảo toàn được tông miếu”. Tướng Tống Quách Quỳ chấp nhận nghị hòa và rút quân. Trong kháng chiến chống quan Minh, Lê Lợi Nguyễn Trãi, cũng với tinh thần “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn; Lấy chí nhân thay cường bạo”, đã quyết định dùng ngoại giao vừa khéo léo thuyết phục, vừa làm áp lực mạnh mẽ, khiến 10 vạn quân Minh bị vây hãm trong thành Đông Quan chỉ còn một đường lựa chọn là: Đầu hàng và rút quân. Với “Hội thề Đông Quan” (10/12/1427), sau những lời thề độc: Không bao giờ dám sang xâm lược nước Việt lần nào nữa, kèm với lễ uống cạn những chén rượu pha máu, quân Minh đã được an toàn trở về nước! Chúng còn được chu cấp 500 chiếc thuyền, vài ngàn con ngựa với đầy đủ lương thực, có đường sá, cầu cống được sửa sang để rút lui!Dưới thời Tây Sơn, ngoại giao là tiếp nối của quân sự, cực kỳ thành công trong việc giải quyết hậu quả chiến tranh, ngăn chặn âm mưu đánh báo thù của nhà Thanh. Tại Tam Điệp, khi chuẩn bị đem quân tấn công quân Thanh ở Thăng Long, Quang Trung nói với các tướng: “Chúng là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giời dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy. Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao, không phải Ngô Thời Nhậm thì không ai làm được”. Thực hiện chủ trương trên, sau đại phá quân Thanh (Kỷ Dậu 1789), nhiều sứ bộ ngoại giao đã được cử sang Thanh. Vua quan nhà Thanh đã hoàn toàn chấp nhận đề nghị của ta về giảng hòa, rút quân, phong vương… Hòa hiếu giữa hai nước nhanh chóng được khôi phục. Chưa bao giờ Vua Càn Long lại cho vẽ tranh cảnh đón sứ bộ Nguyễn Quang Hiển, tự đề thơ vào tranh, và đặc biệt là đón Quang Trung giả vô cùng long trọng, tốn kém. Thành viên Sứ bộ, Đoàn Nguyễn Tuấn phải thốt lên: “Từ trước đến giờ, người mình đi sứ Trung Quốc, chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế”.
Thứ hai, hòa hiếu là nền tảng của tư tưởng ngoại giao hòa bình của cha ông ta. Đồng thời, cha ông chúng ta cũng kiên quyết, kiên trì phát huy vai trò tiên phong của công cụ ngoại giao để bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, tự tôn, tự hào dân tộc, lợi ích quốc gia-dân tộc.
.....