1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Phong cách đàm phán ngoại giao" do TS. Vũ Dương Huân biên soạn.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Phong cách đàm phán ngoại giao (TS. Vũ Dương Huân)

Phong cách đàm phán ngoại giao

Tác giả: TS. Vũ Dương Huân

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật

3. Tổng quan nội dung sách

Cuốn sách phong cách đàm phán ngoại giao là một trong nhiều cuốn sách hay về nghề ngoại giao của một nhà ngoại giao kỳ cự - Giáo sư tiến sĩ Vũ Dương Huân. Ông nguyên là Giám đốc học viện quan hệ quốc tế (Học viện ngoại giao); Tổng biên tập tạp chí nghiên cứu quốc tế; trưởng ban nghiên cứu lịch sử ngoại giao, bộ ngoại giao; Đại sứ Việt Nam tại Ba Lan; đại sứ Việt Nam tại Ukraine, kiêm nhiệm cộng hòa Moldova; tổng lãnh sự Việt Nam tại Vladivoxtoc, liên bang Nga.
Nội dung cuốn sách Phong cách đàm phán ngoại giao gồm 03 chương, cung cấp những kiến thức từ cơ bản đến nâng cao việc công việc đàm phán ngoại giao như: bản chất của đàm phán ngoại giao, chiến lược của đàm phán, kỹ thuật tổ chức đàm phán và chiến thuật đàm phán. Tác giả giải thích những khái niệm ban đầu để hiểu hơn về đàm phán ngoại giao, đồng thời diễn tả đầy đủ thế giới của những cuộc đàm phán từ khâu tổ chức cho đến những gì diễn ra trong và ngoài sự kiện. Đặc biệt, người đọc sẽ hiểu hơn những cách thức, kinh nghiệm về mặt chiến lược, chiến thuật trên bàn đàm phán thông qua những phong cách làm phản tiêu biểu của một số cường quốc như Mỹ, Trung Quốc, Nga.
Cuốn sách được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:
Chương 1. Đàm phán quốc tế
I. Một số vấn đề chung về đàm phán ngoại giao
1. Nhận thức về đàm phán và đám phán ngoại giao
2. Loại hình, cấu trúc và chức năng của đàm phán ngoại giao
3. Tổ chức đàm phán
4. Các giai đoạn đàm phán
5. Văn kiện kết thúc đàm phán
6. Nhân tố chi phối, ảnh hưởng đến đàm phán
II. Kỹ thuật đàm phán ngoại giao
1. Chiến lươc, chiến thuật và mô hình đàm phán
2. Một số kiểu đàm phán
III. Trung gian trong đàm phán quốc tế
1. Khái niệm trung gian
2. Chức năng của trung gian
Chương 2. Phong cách dân tộc trong đàm phán ngoại giao
I. Nhận thức về phong cách dân tộc
II. Một số phong cách đàm phán trên thế giới
1. Phong cách đàm phán Mỹ
2. Phong cách đàm phán Nga
3. Phong cách đàm phán Trung Quốc
Chương 3. Phong cách đàm phán ngoại giao Việt Nam
I. Triết lý ngoại giao truyền thống Việt Nam
II. Phong cách đàm phán ngoại giao Việt Nam
1. Cứng rắn trong các vấn đề chiến lược, mềm dẻo về sách lược
2. Linh hoạt, uyển chuyển song rất quyết đoán, không do dự khi cần thông qua các quyết định
3. Lợi dung mâu thuẫn đối phương, thêm  bạn bớt thù
4. Chủ động tiến công, nhiều sáng kiến

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn sách là tài liệu tham khảo bổ ích đối với những nhà ngoại giao trẻ và những người muốn tìm hiểu về công việc làm phải ngoại giao, công việc mà như tác giả nhận xét là một công việc phức tạp. Để đàm phán thành công người đại diện cho quốc gia tham gia đàm phán, nắm được bản chất của quá trình đàm phán cũng như những chiến lược, chiến thuật và sử dụng thành thục những kỹ năng đàm phán ngoại giao.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Phong cách đàm phán ngoại giao".

Dưới đây là nội dung trích dẫn trong cuốn sách để bạn đọc tham khảo:

Khái niệm đàm phán

Từ góc độ xã hội học, đàm phán là một lĩnh vực thuộc mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp xã hội và mọi nền văn hóa diễn ra hằng ngày, liên quan đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội.
Dưới góc độ giao tiếp, đàm phán là quá trình mỗi bên thông gia ngôn ngữ để bày tỏ quan điểm, tìm cách thuyết phục người đối thoại hay bị phương, đối tác vì một mục đích nhất định và các bên có thể đi đến thỏa thuận sau khi đã nhân nhượng, trao đổi với nhau.
Như vậy, đàm phán là một hành vi giao tiếp nhằm mục đích đạt được thỏa thuận giữa các bên. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi giao tiếp có mục đích đều được coi là đàm phán đổi lời nói giữa các pháp nhân đại diện cho quyền lợi của một cộng đồng mới được thừa nhận là đàm phán.
"Đàm" có nghĩa là thảo luận, "Phán" có nghĩa là ra quyết định. Từ nhiều khía cạnh khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những định nghĩa về đàm phán khác nhau. Có người cho rằng, đàm phán là một phương tiện căn bản để đạt được cái mà người ta muốn từ người khác, là chiến thuật không dùng bạo lực nhằm giải quyết vấn đề có lợi nhất, có thể cải thiện tình hình hơn là không đàm phán. Ý kiến khác nhấn mạnh, đàm phán là nhằm phân phối nguồn tài nguyên có giới hạn hoặc sáng tạo một nguồn tài nguyên mới mà khi nào có thể thực hiện được bằng chính nguồn lực của mình hoặc giải quyết vấn đề hay cuộc tranh cãi giữa các bên. Lại có nhận thức đàm phán là một quá trình mà các bên cùng đưa ra quyết định mà họ có thể chấp nhận được, cùng thống nhất về những việc làm trong tương lai và cách thức giải quyết vấn đề.
Đàm phán xuất hiện từ lâu, song chỉ trở thành khoa học trong thế kỷ 20, dựa trên tri thức của nhiều ngành khoa học khác nhau như chính trị học, xã hội học, tâm lý học .... Trong khoa học đàm phán nhấn mạnh các công cụ lý thuyết để phân tích và dự đoán hành vi cùng sự vận động của các mối quan hệ giữa các chủ thể, trên cơ sở đó xây dựng các mô hình ứng dụng dưới dạng chiến lược, sách lược, chiến thuật, kĩ thuật đàm phán.
Đồng thời, đàm phán cũng được coi là nghệ thuật khi nhà đàm phán nắm chắc và vận dụng thành thạo, sáng tạo kỹ năng đàm phán nếu khoa học đàm phán nhấn mạnh tư duy hệ thống, chính xác, logic, thì nghệ thuật đàm phán coi trọng sự thành thục, tinh tế trong sử dụng các kỹ năng và khả năng sáng tạo, ngẫu hứng, đột biến để vượt qua tình huống thích thức.
Nghệ thuật đàm phán ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả đàm phán. Ở góc độ thực tiễn, nghệ thuật đàm phán là nghệ thuật sử dụng các kỹ năng sẵn có, cùng các kỹ năng xử lý quan hệ xã hội, kỹ năng lắng nghe thuyết phục, kỹ năng trình bày, kỹ năng xây dựng lập luận, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phản biện, giải quyết vấn đề vào việc vận dụng một cách hợp lý chiến lược, chiến thuật, kĩ thuật, mô hình đàm phán và hoàn cảnh cụ thể nhằm đối phó với những thay đổi.
Vậy đàm phán là gì? Đàm phán là hành vi giao tiếp tự nguyện hoặc có chủ ý, diễn ra trong một bối cảnh không gian, thời gian nhất định, được quy định bởi những quy tắc pháp lý chặt chẽ, trong đó mỗi pháp nhân thông qua ngôn ngữ và các thủ thuật giao tiếp tìm cách làm cho quan điểm của mình thắng thế nhằm đạt được thỏa thuận.
Nội hàm của triết lý ngoại giao truyền thống
Triết lý ngoại giao truyền thống Việt Nam có những nội dung chính sau đây.
Thứ nhất, coi trọng hòa hiếu với các nước, các dân tộc khác trên thế giới, trước hết là các nước láng giềng. 
Đây là bản chất của dân tộc Việt Nam, tư tưởng lớn, cơ bản, có tính chất chủ đạo của ngoại giao truyền thống Việt Nam. Vì hoà bình là khát vọng của của mỗi con người, bất kỳ dân tộc nào và của cả nhân loại, bởi trong thực tế tồn tại mầy nghìn năm qua, loài người chưa bao giờ được sống trong một thế giới hòa bình. Giải thích về nguồn gốc khát vọng đó, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau. Ấy là dân nào cũng ưa sự lành ghét sự dữ”. Muốn có hòa bình lâu dài phải tạo lập trước hết một nền văn hóa hoà bình mà linh hồn của văn hóa hòa bình chính là lòng nhân ái, khoan dung. Hồ Chí Minh nhận xét: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái”. Văn minh của người Việt chính là văn minh nông nghiệp, văn hóa lúa nước với tính cách là điển hình của văn hóa sản xuất vật chất ở Việt Nam từ thời xa xưa. Nghề trồng lúa nước buộc con người phải sống phụ thuộc, giao hòa với đất, với nước theo thời tiết thiên nhiên. Từ chỗ ứng xử chênh với tự nhiên đi đến thế ứng xử hòa điệu với tự nhiên ở miền đất thấp, miền đồng bằng châu thổ, theo khí hậu, theo nhịp mùa đi, theo địa hình cao thấp, theo điều kiện đất đai thổ nhưỡng phì nhiêu hay chua mặn… Trong sản xuất nông nghiệp, trong cách ăn, ở, mặc… người Việt Nam đều thể hiện sự thích nghi, hòa hợp với tự nhiên.
Đó chính là cội nguồn của tư tưởng hòa hiếu của người Việt. Trong kháng chiến chống quân Tống xâm lược vào đầu năm 1077, quân Đại Việt đã chặn đứng được 10 vạn quân Tống tại phòng tuyến sông Cầu. Nhiều lần, quân Tống cố vượt sông song đều thất bại. Tình hình khốn đốn vì nhiều quân lính đã bị tiêu diệt và thời tiết nóng nực đến gần, Lý Thường Kiệt quyết định “dùng biện sỹ giảng hòa. Không nhọc tướng tá khỏi tốn máu mủ mà bảo toàn được tông miếu”. Tướng Tống Quách Quỳ chấp nhận nghị hòa và rút quân. Trong kháng chiến chống quan Minh, Lê Lợi Nguyễn Trãi, cũng với tinh thần “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn; Lấy chí nhân thay cường bạo”, đã quyết định dùng ngoại giao vừa khéo léo thuyết phục, vừa làm áp lực mạnh mẽ, khiến 10 vạn quân Minh bị vây hãm trong thành Đông Quan chỉ còn một đường lựa chọn là: Đầu hàng và rút quân. Với “Hội thề Đông Quan” (10/12/1427), sau những lời thề độc: Không bao giờ dám sang xâm lược nước Việt lần nào nữa, kèm với lễ uống cạn những chén rượu pha máu, quân Minh đã được an toàn trở về nước! Chúng còn được chu cấp 500 chiếc thuyền, vài ngàn con ngựa với đầy đủ lương thực, có đường sá, cầu cống được sửa sang để rút lui!

Dưới thời Tây Sơn, ngoại giao là tiếp nối của quân sự, cực kỳ thành công trong việc giải quyết hậu quả chiến tranh, ngăn chặn âm mưu đánh báo thù của nhà Thanh. Tại Tam Điệp, khi chuẩn bị đem quân tấn công quân Thanh ở Thăng Long, Quang Trung nói với các tướng: “Chúng là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giời dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy. Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao, không phải Ngô Thời Nhậm thì không ai làm được”. Thực hiện chủ trương trên, sau đại phá quân Thanh (Kỷ Dậu 1789), nhiều sứ bộ ngoại giao đã được cử sang Thanh. Vua quan nhà Thanh đã hoàn toàn chấp nhận đề nghị của ta về giảng hòa, rút quân, phong vương… Hòa hiếu giữa hai nước nhanh chóng được khôi phục. Chưa bao giờ Vua Càn Long lại cho vẽ tranh cảnh đón sứ bộ Nguyễn Quang Hiển, tự đề thơ vào tranh, và đặc biệt là đón Quang Trung giả vô cùng long trọng, tốn kém. Thành viên Sứ bộ, Đoàn Nguyễn Tuấn phải thốt lên: “Từ trước đến giờ, người mình đi sứ Trung Quốc, chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như thế”.

Thứ hai, hòa hiếu là nền tảng của tư tưởng ngoại giao hòa bình của cha ông ta. Đồng thời, cha ông chúng ta cũng kiên quyết, kiên trì phát huy vai trò tiên phong của công cụ ngoại giao để bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, tự tôn, tự hào dân tộc, lợi ích quốc gia-dân tộc.

.....