Đàm phán và ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý là thực hiện một hoặc nhiều cuộc đối thoại giữa một bên là Luật sư hoặc đại diện của tổ chức hành nghề luật sư và một bên là khách hàng để thực hiện một thỏa thuận đáp ứng yêu cầu của khách hàng hoặc của Luật sư hoặc/ và tổ chức hành nghề luật sư tham gia trong quá trình đàm phán. Bên cạnh quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam điều chỉnh quan hệ dân sự về việc đàm phán và ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý thì quy định về Hợp đồng pháp lý được điều chỉnh chi tiết và cụ thể tại Luật luật sư năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012 tại Điều 26. Thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý “1. Luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý, trừ trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức; 2. Hợp đồng dịch vụ pháp lý phải được làm thành văn bản và có những nội dung chính sau đây: a) Tên, địa chỉ của khách hàng hoặc người đại diện của khách hàng, đại diện của tổ chức hành nghề luật sư hoặc luật sư hành nghề với tư cách cá nhân; b) Nội dung dịch vụ; thời hạn thực hiện hợp đồng; c) Quyền, nghĩa vụ của các bên; d) Phương thức tính và mức thù lao cụ thể; các khoản chi phí (nếu có); đ) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; e) Phương thức giải quyết tranh chấp”

Bắt nguồn từ những điều nêu trên, nên các vấn đề cần lưu ý trong quá trình Luật sư tham gia đàm phán và ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý là chủ đề tôi lựa chọn để bàn luận trong khuôn khổ của bài viết này. 

Để làm rõ các vấn đề lưu ý trong quá trình Luật sư tham gia đàm phán và ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý, tôi đưa ra tám vấn đề cụ thể như sau:

1. Thứ nhất là xác định được năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự của khách hàng.

Đây là công việc tìm hiểu các bên có đủ năng lực để ký Hợp đồng hay không? việc tìm hiểu năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự của khách hàng đảm bảo cho việc ký hợp đồng có hiệu lực pháp luật ( không rơi vào các trường hợp bị coi là vô hiệu).

Loại hợp đồng dịch vụ pháp lý ký kết bởi chủ thể là khách hàng hoặc người đại diện của khách hàng và đại diện của tổ chức hành nghề luật sư hoặc luật sư hành nghề với tư cách cá nhân.

2. Thứ hai là  xác định yêu cầu cụ thể của khách hàng; làm rõ mục đích mà khách hàng đòi hỏi, muốn đạt được.

Yêu cầu cụ thể của khách hàng :

Một là: Đại diện thực hiện thủ tục pháp lý tại các cơ quan chức năng, bao gồm : Thành lập doanh nghiệp; Thay đổi đặng ký kinh doanh của Doanh nghiệp; Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; Thành lập văn phòng đại diện của Doanh nghiệp; Giải thể doanh nghiệp; Chấm dứt hoạt động của Chi nhánh; và các thủ tục khác liên quan đến dịch vụ của Phòng doanh nghiệp của Công ty; Thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hóa; Thủ tục đăng ký mã số mã vạch; Thủ tục đăng ký quyền tác giả và các thủ tục khác liên quan đến dịch vụ của Phòng sở hữu trí tuệ của Công ty; thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư; điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư, lập dự án đầu tư;  giấy phép cho nhà đầu tư; xin cấp giấy phép quảng cáo; xin cấp giấy phép phòng cháy chữa cháy; xin cấp giấy phép an ninh trật tự; xin giấy phép công bố mỹ phẩm; vv

Hai là: Đại diện theo ủy quyền hoặc thực hiện thủ tục tranh tụng tại Tòa tòa án/ thực hiện nghĩa vụ theo ủy quyền

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn cổ phần hóa doanh nghiệp, Luật sư riêng doanh nghiệp

Làm việc và liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.

Làm việc trực tiếp với Tòa án nhân dân quận/ huyện/ thành phố/ tỉnh và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với tư cách là người đại diện theo ủy quyền khách hàng.

Ba là: Tư vấn pháp luật: tư vấn các vấn đề pháp lý liên quan đến giao dịch của khách hàng, khách hàng yêu cầu.

Như vậy, cần rõ mục tiêu của khách hàng muốn đạt được khi đàm phán, ký kết hợp đồng là gì? Khả năng hợp đồng mang lại lợi ích cho bên khách hàng và bên cung cấp dịch vụ pháp lý là gì? căn cứ pháp lý để triển khai thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý là gì?

3. Thứ ba là giới hạn phạm vi công việc và trách nhiệm luật sư một cách cụ thể, rõ ràng trong Hợp đồng dịch vụ pháp lý.

4. Thứ tư là thận trọng tính toán các điều kiện cụ thể về thời gian thời hạn hợp đồng dịch vụ pháp lý và phương thức tính và mức thù lao cụ thể; các khoản chi phí (nếu có); trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và phương thức giải quyết tranh chấp để tiến hành ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý.

5. Thứ năm là lên phương án, kế hoạch, tiến trình đàm phán và tiến hành đàm phán sơ bộ, ban đầu với khách hàng.

Việc chuẩn bị, lên phương án, kế hoạch, tiến trình đàm phán là việc dự thảo trước các khả năng phát sinh trong quá trình các bên thỏa thuận, thống nhất nội dung của Hợp đồng

Việc tiến hành đàm phán sơ bộ, ban đầu với khách hàng là việc Luật sư tiếp cận khách hàng trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra các đề xuất về việc triển khai dự thảo hợp đồng pháp lý.

6. Thứ sáu là chuẩn bị dự thảo hợp đồng để chủ động đàm phán chính thức.

>> Xem thêm:  Đề cương giới thiệu luật kiểm toán nhà nước năm 2005

Chuẩn bị dự thảo hợp đồng là việc Luật sư hoặc khách hàng đề xuất dự kiến các nội dung cần có trong hợp đồng để các bên thỏa thuận nhằm đi đến thống  nhất các nội dung đó. Xét về hình thức thì Dự thảo hợp đồng nếu đã được chuẩn bị bằng văn bản thì không khác só với văn bản hợp đồng chính thức. Điểm khác biệt là dự thảo hợp đồng mới là ý kiến của một bên, thông thường tại Hợp đồng dịch vụ pháp lý thì ý kiến này là từ phía Luật sư/ hoặc / và tổ chức hành nghề Luật, phía bên kia là khách hàng có quyền bàn bạc, trao đổi các nội dung của Hợp đồng.

Dự thảo hợp đồng pháp lý về cơ bản phải  đáp ứng các yêu cầu về nội dung và hình thức như đối với các văn bản hợp đồng chính thức. Dự thảo hợp đồng này được gửi tới khách hàng để lấy ý kiến đóng góp về việc thực hiện nội dung của Hợp đồng dịch vụ pháp lý và khách hàng đề xuất phương án sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của khách hàng mà Luật sư/ tổ chức hành nghề Luật đồng ý sao cho phù hợp với quy định của Pháp luật.

7. Thứ bảy là trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.

Chúng ta cần lưu ý là trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong Hợp đồng dịch vụ pháp lý là trách nhiệm dân sự phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ được quy định trong Hợp đồng 

8. Thứ tám là phương thức giải quyết tranh chấp.

Một điểm đáng lưu ý khi Luật sư tham gia trong quá trình đám phán, ký kết Hợp đồng dịch vụ pháp lý là đề xuất một trong bốn phương thức giải quyết tranh chấp là Thương lượng, Hòa giải, Tòa án, Trọng tài. Bên cạnh quan hệ dân sự đơn thuần thì Luật sư hoạt động bị điều chỉnh bởi Luật Luật sư năm 2006 và sửa đổi bổ sung năm 2012 và Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam (ban hành theo Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ ngày 20 tháng 07 năm 2011 của Hội đồng luật sư toàn quốc). Xét cho cùng, thì tôi cho rằng phương thức tự thương lượng để giải quyết tranh chấp trên tinh thần hoàn toàn tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên là phương thức tối ưu nhất cho Luật sư trong quá trình giải quyết tranh chấp nếu có phát sinh trong Hợp đồng dịch vụ pháp lý.

Từ những vấn đề nêu trên và thực tiễn phát sinh, các vấn đề nêu trên khi Luật sư tham gia đàm phán, ký kết Hợp đồng dịch vụ pháp lý là các vấn đề thực sự cần thiết để Luật sư đề cập và đưa vào hoạt động đàm phán, ký kết Hợp đồng dịch vụ pháp lý.  Ngoài ra, còn có rất nhiều các vấn đề khác mà trong khuôn khổ bài viết này tôi vẫn chưa đề cập đến và phân tích sâu. 

Chuyên gia tư vấn - Tô Phương Dung - Công ty Luật TNHH Minh Khuê

>> Xem thêm:  Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi mang thai?