Bản chất pháp lý của tội "Cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ" được quy định tại Điều 231 Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015, sửa đổi 2017, là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng vị trí công tác để vi phạm một cách có chủ ý các quy định của Nhà nước về quản lý và phân phối tiền, hàng cứu trợ. Tội phạm này có cấu thành vật chất, nghĩa là tội danh chỉ được xác lập khi hành vi vi phạm gây ra hậu quả là thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ đạt mức nhất định. Điểm đặc biệt của tội danh này là hành vi vi phạm không nhất thiết phải có mục đích chiếm đoạt tài sản. Hành vi "cố ý làm trái" là dấu hiệu định tội, trong khi hậu quả thiệt hại là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm. Điều này phân biệt rõ ràng tội danh này với các tội phạm về sở hữu tài sản.

Việc xác định một hành vi có "cố ý làm trái quy định" hay không phải dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể của Nhà nước về vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện, chẳng hạn như Nghị định số 64/2008/NĐ-CP hoặc Nghị định số 93/2021/NĐ-CP. Hành vi làm trái có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức, ví dụ như phân phối tiền, hàng cứu trợ cho những người không thuộc diện được nhận, hoặc sử dụng tiền, hàng cứu trợ sai mục đích đã được quy định. Mặc dù hành vi có thể không nhằm mục đích tư lợi cá nhân, nhưng nếu gây ra thiệt hại tài chính đủ mức quy định, người thực hiện vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Theo BLHS 2015, tội danh này thuộc Chương XIX – Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Việc xếp tội danh này vào nhóm tội về kinh tế, thay vì nhóm tội về chức vụ, phản ánh quan điểm của nhà làm luật về tầm quan trọng của việc bảo vệ trật tự quản lý trong một lĩnh vực nhạy cảm, có tính chất xã hội sâu sắc như hoạt động cứu trợ. Hành vi "cố ý làm trái" không chỉ là vi phạm về mặt chức vụ mà còn làm xáo trộn nghiêm trọng trật tự quản lý kinh tế, gây ra sự mất cân bằng trong việc phân bổ nguồn lực và làm suy giảm lòng tin của cộng đồng vào hệ thống quản lý của Nhà nước.

Tội tố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ không phải là tội phạm phổ biến trong thực tiễn xét xử. Tuy nhiên, khi các vụ việc liên quan đến tội danh này xảy ra, chúng thường thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận xã hội, đặc biệt là trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh. Việc xử lý các vụ án này thường gặp nhiều thách thức do tính phức tạp của hành vi, khó khăn trong việc xác định chính xác thiệt hại và chứng minh ý chí chủ quan của người phạm tội.

 

1. Các yếu tố cấu thành Tội tố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ

1.1 Chủ thể của tội phạm

Chủ thể đặc biệt: Tội phạm này có chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn hoặc người được giao trách nhiệm cụ thể trong việc quản lý, phân phối tiền, hàng cứu trợ.

Phân loại: Người có chức vụ, quyền hạn: Cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, doanh nghiệp được giao nhiệm vụ phân phối tiền, hàng cứu trợ. Ví dụ: Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp; cán bộ Mặt trận Tổ quốc; cán bộ Hội Chữ thập đỏ.

Người được giao trách nhiệm: Mặc dù không có chức vụ, nhưng được cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ cụ thể để phân phối tiền, hàng cứu trợ. Ví dụ: Một cá nhân được một tổ chức từ thiện ủy quyền để trực tiếp đi phát quà, tiền cho người dân.

Yêu cầu: Chủ thể phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.

1.2 Khách thể của tội phạm

1.2.1. Hành vi

Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện qua hành vi "lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái những quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ". "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn" là dấu hiệu bắt buộc, chỉ ra rằng hành vi chỉ có thể được thực hiện bởi người có thẩm quyền trong việc phân phối. "Cố ý làm trái những quy định" là hành vi trái pháp luật, vi phạm các quy tắc, quy trình đã được các cơ quan có thẩm quyền ban hành. Cơ sở pháp lý để xác định sự sai trái của hành vi chính là các quy định của Nhà nước về phân phối tiền, hàng cứu trợ, ví dụ như việc phân phối không đúng đối tượng hoặc sai mục đích.

1.2.2. Hậu quả

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội danh này. Tội phạm chỉ cấu thành khi hành vi "làm trái" gây ra "thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ" từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng. Đây là một tiến bộ của BLHS 2015 so với BLHS 1999, khi đã định lượng hóa hậu quả thay vì sử dụng khái niệm định tính "gây hậu quả nghiêm trọng". Việc định lượng này giúp các cơ quan tố tụng có căn cứ rõ ràng hơn để định tội và tránh sự tùy tiện trong việc áp dụng pháp luật. Tội danh này là tội phạm có cấu thành vật chất, đòi hỏi hậu quả thực tế phải xảy ra để cấu thành tội phạm.

Ví dụ: Người phạm tội đã phân phối tiền, hàng cứu trợ cho một số hộ gia đình không thuộc diện phải cứu trợ dẫn đến thất thoát số tiền cứu trợ là 200 triệu đồng.

1.2.3. Mối quan hệ nhân quả

Mối quan hệ nhân quả là sự liên kết tất yếu giữa hành vi "cố ý làm trái" với hậu quả "thiệt hại hoặc thất thoát." Để truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan tố tụng phải chứng minh được rằng chính hành vi làm trái quy định của người phạm tội là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ.

1.3. Khách thể của tội phạm

Khách thể trực tiếp của tội danh này là trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, phân phối tiền, hàng cứu trợ. Đối tượng tác động của tội phạm là tiền và hàng hóa dùng vào mục đích cứu trợ. Tiền, hàng cứu trợ được định nghĩa là các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm hỗ trợ nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng hoặc hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo.

Việc xác định khách thể là "trật tự quản lý" thay vì "quyền sở hữu" là điểm khác biệt cốt lõi. Trong các tội chiếm đoạt tài sản như "Tham ô tài sản" (Điều 353 BLHS), khách thể là quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức. Ngược lại, đối với tội danh tại Điều 231, hành vi có thể không nhằm chiếm đoạt tài sản cho bản thân nhưng vẫn gây thiệt hại cho trật tự quản lý của Nhà nước. Chẳng hạn, một cán bộ có thể cố ý phân phối hàng cứu trợ cho một số hộ gia đình không thuộc diện được nhận, hành vi này có thể không mang lại lợi ích trực tiếp cho cá nhân người đó nhưng vẫn gây ra thất thoát tài sản và xâm phạm trật tự quản lý đã được thiết lập.

1.4. Chủ quan của tội phạm 

Lỗi: Về mặt chủ quan, tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái quy định của pháp luật, thấy trước hậu quả thiệt hại hoặc thất thoát có thể xảy ra và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc để mặc cho hậu quả đó xảy ra.

Mục đích: Mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm này. Người phạm tội có thể thực hiện hành vi "cố ý làm trái" vì nhiều động cơ khác nhau, không chỉ vì mục đích tư lợi cá nhân. Ví dụ, hành vi có thể xuất phát từ sự ưu ái, cảm tính đối với một nhóm người nhất định, hoặc sự quan liêu, thiếu trách nhiệm, nhưng nếu gây ra hậu quả thiệt hại đủ mức thì vẫn cấu thành tội phạm. Đây là điểm khác biệt căn bản với các tội chiếm đoạt tài sản, nơi mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.

Sai phạm trong phân phối tiền, hàng cứu trợ thì phải chịu trách nhiệm như thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

2. Khung hình phạt Tội tố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ

Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ được quy định tại Điều 231 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, cụ thể như sau:
Điều 231. Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ
1, Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ỷ làm trái những quy định về phân phổi tiền, hàng cứu trợ gãy thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
ạ) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Gây thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ 300.000.000 đồng trở lên;
d) Gây ảnh hưởng xẩu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
3. Người phạm tội còn có 'thể bị cẩm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Căn cứ Điều 231 BLHS 2015, sửa đổi 2017, các khung hình phạt được quy định như sau:

  • Khoản 1: Đối với hành vi gây thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, người phạm tội bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.
  • Khoản 2: Trường hợp phạm tội thuộc một trong các tình tiết định khung tăng nặng, người phạm tội bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
  • Khoản 3: Hình phạt bổ sung có thể được áp dụng, bao gồm cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

2.1. Tình tiết định khung tăng nặng theo điều luật

Các tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại Khoản 2 Điều 231 BLHS bao gồm:

  • Có tổ chức;
  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Gây thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ 300.000.000 đồng trở lên;
  • Gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

2.2. Tình tiết giảm nhẹ nếu được luật ghi nhận

Việc quyết định hình phạt có thể dựa trên các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 BLHS 2015, bao gồm nhưng không giới hạn ở: tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan chức năng, tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Một nguyên tắc quan trọng trong tố tụng hình sự là các tình tiết đã được quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt nữa.

2.3 Tham khảo vụ án điển hình về tội danh

Do tính chất nhạy cảm và thường không được công bố rộng rãi như các vụ án tham nhũng lớn, việc tìm kiếm án lệ cụ thể được công khai theo số hiệu là rất khó khăn. Tuy nhiên, có nhiều vụ án đã được báo chí và dư luận đưa tin, phản ánh thực trạng vi phạm.

Vụ án tại tỉnh Hà Tĩnh: Sau đợt lũ lụt năm 2016, một số cán bộ cấp xã, huyện tại Hà Tĩnh đã bị phát hiện có hành vi thiếu minh bạch trong việc phân phối tiền, hàng cứu trợ. Có hành vi không phát hết hàng cứu trợ, giữ lại một phần để phân phối cho người thân hoặc sử dụng cho mục đích cá nhân,tự ý cắt giảm suất quà, suất tiền của người dân để chi tiêu cho các hoạt động khác. Các cán bộ này đã bị khởi tố, xét xử về tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ" hoặc "Tham ô tài sản" (nếu có dấu hiệu chiếm đoạt).

Bài học rút ra: Thiếu cơ chế giám sát từ trên xuống dưới, thiếu sự tham gia của người dân trong quá trình phân phối, dẫn đến việc lạm dụng quyền hạn.

Vụ án tại thành phố Đà Nẵng:  Một cán bộ làm công tác Mặt trận ở quận đã bị kỷ luật và truy cứu trách nhiệm hình sự do có hành vi trục lợi từ tiền, hàng cứu trợ. Lập danh sách khống người dân khó khăn để nhận tiền, hàng cứu trợ, sau đó chiếm đoạt. Cán bộ này đã bị khởi tố và xét xử.

Bài học rút ra: Cần có sự đối chiếu, kiểm tra chéo giữa danh sách người nhận với thực tế, tránh việc lập danh sách khống.

 

3. So sánh pháp lý với các tội danh tương tự

3.1. So sánh với Tội tham ô tài sản (Điều 353 BLHS)

Tiêu chí Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ (Điều 231) Tội tham ô tài sản (Điều 353)
Hành vi Làm trái các quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ. Hành vi làm trái là phương tiện để thực hiện việc chiếm đoạt hoặc gây thiệt hại. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.
Chủ thể Chủ thể đặc biệt: Người có trách nhiệm trong việc phân phối tiền, hàng cứu trợ. Chủ thể đặc biệt: Người có chức vụ, quyền hạn.
Khách thể Trật tự quản lý nhà nước trong việc phân phối, quản lý tiền, hàng cứu trợ. Hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, đồng thời là quyền sở hữu tài sản.
Mục đích Mục đích làm trái là để chiếm đoạt hoặc gây thiệt hại, nhưng chưa thể kết luận là có mục đích chiếm đoạt ngay từ đầu. Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.
Tính chất Tội phạm quản lý, hậu quả là thiệt hại về tài sản hoặc hậu quả phi vật chất. Tội phạm chiếm đoạt, hậu quả là chiếm đoạt được tài sản.
Kết luận: Việc phân biệt rõ ràng hai tội danh này là cực kỳ quan trọng đối với công tác điều tra, truy tố và xét xử. Tội cố ý làm trái... chỉ áp dụng cho những người có chức vụ, quyền hạn trong hệ thống quản lý chính thức của Nhà nước hoặc các tổ chức được giao nhiệm vụ phân phối tiền, hàng cứu trợ. Ngược lại, đối với các cá nhân không có chức vụ mà đứng ra kêu gọi từ thiện và có hành vi trục lợi, họ sẽ bị xử lý theo các tội danh khác.

Cụ thể, nếu một cá nhân ngay từ đầu đã có ý định chiếm đoạt tài sản bằng cách kêu gọi từ thiện, hành vi đó có thể cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS). Nếu ban đầu họ kêu gọi với mục đích tốt, nhưng sau khi nhận được tiền thì nảy sinh ý định chiếm đoạt, hành vi đó sẽ bị xử lý theo tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS). Sự phân biệt này không chỉ đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội mà còn làm rõ vai trò của từng loại tội phạm trong việc bảo vệ các mối quan hệ xã hội khác nhau.

3.2. So sánh với Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355 BLHS)

Tiêu chí Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ (Điều 231) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355)
Hành vi Làm trái quy định trong một lĩnh vực cụ thể (phân phối tiền, hàng cứu trợ). Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để chiếm đoạt tài sản của người khác.
Chủ thể Người có trách nhiệm trong việc phân phối tiền, hàng cứu trợ. Người có chức vụ, quyền hạn.
Khách thể Trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực cứu trợ, từ thiện. Hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức.
Tài sản Tiền, hàng cứu trợ. Tài sản của người khác.
Bản chất Tội phạm được quy định đặc thù, cụ thể hóa hành vi làm trái quy định trong lĩnh vực cứu trợ. Tội phạm có tính chất chung, áp dụng cho mọi trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt.

Kết luận: Tội danh tại Điều 231 là một dạng tội phạm đặc thù, có tính chất "làm trái quy định", trong khi Tội lạm dụng... là tội phạm chiếm đoạt tài sản, hành vi là "lợi dụng chức vụ, quyền hạn".

 

4. Khó khăn, vướng mắc thực tiễn và đề xuất kiến nghị

Thực tiễn áp dụng Điều 231 BLHS vẫn còn gặp nhiều vướng mắc.

Đầu tiên là khó khăn trong việc chứng minh ý chí chủ quan của người phạm tội, tức là chứng minh hành vi "cố ý làm trái". Việc này đòi hỏi công tác điều tra phải hết sức tỉ mỉ và thu thập đầy đủ các chứng cứ để làm rõ bản chất hành vi.

Thứ hai, việc định giá tài sản, đặc biệt là các loại hàng cứu trợ không phải tiền mặt, gặp nhiều thách thức. Mặc dù các văn bản pháp luật về giám định tư pháp tài chính đã được ban hành, nhưng việc áp dụng vẫn còn thiếu thống nhất và phức tạp trên thực tế.

Thứ ba, việc chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi làm trái và hậu quả thiệt hại cũng là một vấn đề. Đôi khi, thiệt hại có thể là tổng hợp của nhiều yếu tố, gây khó khăn cho việc kết luận.

Một trong những vướng mắc lớn nhất là việc áp dụng tình tiết định khung tăng nặng "gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội". Đây là một khái niệm định tính, không có văn bản hướng dẫn chi tiết, dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Ví dụ, trường hợp các cán bộ tại Hướng Hóa, Quảng Trị có vi phạm trong việc phân phối tiền, hàng cứu trợ. Mặc dù Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy kết luận rằng vi phạm của họ đã "gây hậu quả nghiêm trọng, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân," và làm giảm uy tín của địa phương , nhưng việc họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự cho thấy có thể giá trị thiệt hại không đạt mức tối thiểu 100 triệu đồng để cấu thành tội phạm theo BLHS. Điều này làm nổi bật một lỗ hổng pháp lý khi một hành vi gây ra hậu quả xã hội nghiêm trọng nhưng lại không đủ điều kiện để xử lý hình sự theo điều luật này.

Kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật về tội danh này như sau:

  1. Sửa đổi luật, bổ sung hướng dẫn để giải quyết những vướng mắc nêu trên, việc hoàn thiện pháp luật là cần thiết. Kiến nghị quan trọng nhất là ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hoặc Thông tư liên tịch để hướng dẫn chi tiết, cụ thể hóa các tình tiết định khung tăng nặng mang tính định tính, đặc biệt là tình tiết "gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội". Ngoài ra, cần bổ sung hướng dẫn chi tiết hơn về quy trình và phương pháp định giá tiền, hàng cứu trợ, bao gồm cả vật phẩm và hiện vật, để đảm bảo tính khách quan và khoa học trong công tác giám định.
  2. Cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ điều tra, kiểm sát và xét xử, giúp họ nắm vững hơn các quy định của pháp luật và có kinh nghiệm thực tiễn trong việc xử lý các vụ án phức tạp liên quan đến tội danh này.
  3. Ứng dụng công nghệ, cải thiện công tác giám định đề xuất ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, giám sát hoạt động từ thiện, tạo sự minh bạch từ khâu tiếp nhận đến khâu phân phối. Cải thiện năng lực của các tổ chức giám định tư pháp tài chính, đảm bảo việc định giá được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác và có cơ sở pháp lý vững chắc.

Kết luận

Tội danh "Cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ" không chỉ là tội phạm xâm hại đến trật tự quản lý của Nhà nước mà còn trực tiếp tác động đến lòng tin của người dân vào hoạt động thiện nguyện. Tính nguy hiểm của tội danh này không chỉ nằm ở giá trị tài sản bị thất thoát mà còn ở hậu quả xã hội tiêu cực mà nó gây ra, làm xói mòn các giá trị đạo đức và nhân văn trong cộng đồng.

Việc xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội các hành vi sai phạm trong hoạt động cứu trợ là vô cùng cần thiết. Điều này không chỉ bảo vệ tính thượng tôn của pháp luật mà còn có vai trò củng cố niềm tin của xã hội vào sự minh bạch, công bằng. Trong bối cảnh hiện nay, khi các hoạt động từ thiện ngày càng phổ biến, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn chi tiết, cụ thể hóa các tình tiết định tính và tăng cường năng lực cho các cơ quan tố tụng là một nhiệm vụ cấp bách.