Kể từ ngày chau được cho làm con nuôi là cha mẹ đẻ như chúng tôi đây sẽ không có quyền hạn gì đối với con ruột của mình nữa hay không? và xin hỏi sau khi cháu cùng Cô được chồng bảo lãnh đi nước ngoài định cư, vậy thì sau này cháu có được cho phép trở về nước để thăm cha mẹ đẻ của mình được không? và khi cháu tới tuổi trưởng thành hay sau này vì một lý do nào khác cháu không muốn sống chung với cha mẹ nuôi nữa và muốn trở về Việt Nam ở cùng với cha mẹ đẻ của cháu thì có được chấp nhận hay không? và người làm cha mẹ như chúng tôi có quyền nhận lại con được không?

Mong được hồi âm sớm!

Xin chân thành cảm ơn:

Người gửi: Kim Liên

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  - 1900.1975

Quyền cha mẹ đẻ đối với con nuôi 

Trả lời:

Ý kiến thứ nhất:

Thân chào bạn ! câu hỏi của bạn chúng tôi trả lời như sau:

1. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đối với con đã cho đi làm con nuôi.

Luật Nuôi con nuôi năm 2010 đã quy định rõ ràng, cụ thể về quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ nuôi và con nuôi. Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 24 Luật Nuôi con nuôi quy định Hệ quả của việc nuôi con nuôi :

« 1. Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi.

Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.

3. Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.

4. Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi ».

Như vậy về măt pháp lí kể từ ngày giao nhận con nuôi cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lí dịnh đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi, nếu như giữa cha mẹ nuôi và cha mẹ đẻ không có thỏa thuận gì khác. Còn việc sau này con của bạn có được về thăm bạn hay không ? chúng tôi trả lời như sau : Pháp luật không cấm việc con đã cho đi làm con nuôi quay về thăm cha mẹ đẻ của mình.

2. Chấm dứt việc nuôi con nuôi

 Điều 25 Luật Nuôi con nuôi quy định Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi như sau :

« Việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi;

2. Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;

3. Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi;

4. Vi phạm quy định tại Điều 13 của Luật này ».

Khi có một trong các căn cứ nêu trên và theo yêu cầu của người có quyền yêu cầu thì việc nuôi con nuôi sẽ chấm dứt.

Điều 26 Luật Nuôi con nuôi quy định Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi như sau :

« 1. Cha mẹ nuôi.

2. Con nuôi đã thành niên.

3. Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi.

4. Cơ quan, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khi có một trong các căn cứ quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 25 của Luật này:

a) Cơ quan lao động, thương binh và xã hội;

b) Hội liên hiệp phụ nữ”.

Về hệ quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi, Điều 27 Luật Nuôi con nuôi quy định như sau:

"1. Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Trường hợp con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động thì Tòa án quyết định giao cho cha mẹ đẻ hoặc tổ chức, cá nhân khác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục vì lợi ích tốt nhất của người đó.

3. Trường hợp con nuôi được giao cho cha mẹ đẻ thì các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đã chấm dứt theo quy định tại khoản 4 Điều 24 của Luật này được khôi phục.

4. Trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công lao đóng góp vào khối tài sản chung của cha mẹ nuôi thì được hưởng phần tài sản tương xứng với công lao đóng góp theo thỏa thuận với cha mẹ nuôi; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Con nuôi có quyền lấy lại họ, tên của mình như trước khi được cho làm con nuôi”.

Như vậy, nếu việc con đã cho đi làm con nuôi trở về với cha mẹ đẻ, thì các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đã chấm dứt sẽ được khôi phục lại.

Căn cứ pháp lí:

- Luật Nuôi con nuôi năm 2010;

- Nghị định số 19/2011/NĐ-CP Hướng dẫn thi hành Luật Nuôi con nuôi.

 

Ý kiến thứ hai:

Cảm ơn chị đã gửi câu hỏi tới chuyên mục hỏi/đáp pháp luật của chúng tôi. Câu hỏi của chị xin được tư vấn như sau:

Kể từ ngày cháu được cho làm con nuôi là cha mẹ đẻ như chúng tôi đây sẽ không có quyền hạn gì đối với con ruột của mình nữa hay không?

Nghị định 19/2011/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi

Điều 24 của Luật số 52/2010/QH12 của Quốc hội ban hành ngày 17-6-2010 về nuôi con nuôi quy định về hệ quả của việc nuôi con nuôi như sau:

1. Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi.

Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.

3. Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.

4. Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi.

Như vậy, trừ khi giữa vợ chồng chị và cha mẹ nuôi của đứa bé có thỏa thuận khác thì mọi quyền và nghĩa vụ của vợ chồng chị đối với đứa bé được chuyển giao sang cho cha mẹ nuôi vào thời điểm giao nhận đứa bé làm con nuôi. Kể từ thời điểm đó, cha mẹ đẻ của đứa bé ( vợ chồng chị) không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với đứa bé.

Hỏi sau khi cháu cùng Cô được chồng bảo lãnh đi nước ngoài định cư, vậy thì sau này cháu có được cho phép trở về nước để thăm cha mẹ đẻ của mình được không? và khi cháu tới tuổi trưởng thành hay sau này vì một lý do nào khác cháu không muốn sống chung với cha mẹ nuôi nữa và muốn trở về Việt Nam ở cùng với cha mẹ đẻ của cháu thì có được chấp nhận hay không? và người làm cha mẹ như chúng tôi có quyền nhận lại con được không?

Điều 25 Luật nuôi con nuôi quy định :

Điều 25. Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi

Việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi;

2. Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;

3. Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi;

4. Vi phạm quy định tại Điều 13 của Luật này. ( tức phạm vào các hành vi bị cấm)

( trích « Điều 13. Các hành vi bị cấm

1. Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục; bắt cóc, mua bán trẻ em.

2. Giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi.

3. Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi.

4. Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số.

5. Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước.

6. Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi.

7. Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.”

Điều 26. Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

1. Cha mẹ nuôi.

2. Con nuôi đã thành niên.

3. Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi.

4. Cơ quan, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khi có một trong các căn cứ quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 25 của Luật này:

a) Cơ quan lao động, thương binh và xã hội;

b) Hội liên hiệp phụ nữ.

Điều 27. Hệ quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi

1. Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Trường hợp con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động thì Tòa án quyết định giao cho cha mẹ đẻ hoặc tổ chức, cá nhân khác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục vì lợi ích tốt nhất của người đó.

3. Trường hợp con nuôi được giao cho cha mẹ đẻ thì các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đã chấm dứt theo quy định tại khoản 4 Điều 24 của Luật này được khôi phục.

4. Trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công lao đóng góp vào khối tài sản chung của cha mẹ nuôi thì được hưởng phần tài sản tương xứng với công lao đóng góp theo thỏa thuận với cha mẹ nuôi; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Con nuôi có quyền lấy lại họ, tên của mình như trước khi được cho làm con nuôi.

Sau khi cháu cùng Cô được chồng bảo lãnh đi nước ngoài định cư sau này cháu có thể  được cho phép trở về nước để thăm cha mẹ đẻ của mình ( tất nhiên điều này phải dựa vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể cũng như nguyện vọng của đứa trẻ,…) Trên thực tế thì bạn có thể thỏa thuận với cha mẹ nuôi của đứa trẻ để bạn thường xuyên  thăm nom chăm sóc con của mình. Tuy nhiên về pháp lý thì quan hệ nuôi con nuôi vẫn tồn tại hợp pháp.

Khi cháu tới tuổi trưởng thành hay sau này vì một lý do nào khác cháu không muốn sống chung với cha mẹ nuôi nữa và muốn trở về Việt Nam ở cùng với cha mẹ đẻ của cháu thì điều này chỉ được chấp nhận khi có một trong các căn cứ quy định tại Điều 25 Luật nuôi con nuôi và khi ấy vợ chồng bạn có quyền nhận lại con.

Tham khảo văn bản pháp luật có liên quan:

 Luật số 52/2010/QH12 của Quốc hội ban hành ngày 17-6-2010 về nuôi con nuôi.

Nghị định 19/2011/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi.

 

Ý kiến bổ sung thứ 3:

Chào bạn, rất cám ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Đối với trường hợp của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:
Trước lúc kết hôn thì cô của con bạn có nhận cháu làm con nuôi. Theo luật nuôi con nuôi năm 2010 tại điều 24 thì: “Hệ quả của việc nuôi con nuôi
1. Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi.
Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.
3. Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.
4. Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi.

Vậy thì trong trường hợp này, trừ trường hợp gia đình bạn với gia đình bên kia có những sự thỏa thuận khác như là thăm nom, chăm sóc...nếu không có thỏa thuận khác thì kể từ ngày giao nhận con nuôi, gia đình bạn sẽ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng hay cấp dưỡng...đối với con đã cho làm con nuôi nữa.
Sau khi con bạn  được chồng bảo lãnh sang nước ngoài định cư thì sau này cháu hoàn toàn được phép trở về nước thăm cha mẹ đẻ của mình, pháp luật không cấm con đã cho làm con nuôi về thăm bố mẹ ruột của mình.
Khi cháu đến tuổi trưởng thành muốn về nước thăm cha mẹ đẻ của mình hay vì một lý do khác cháu muốn nhận lại bố mẹ ruột của mình. Theo quy định tại luật nuôi con nuôi thì trường hợp chấm dứt :
2. Chấm dứt việc nuôi con nuôi
 Điều 25 Luật Nuôi con nuôi quy định Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi như sau :
"Việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
1. Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi;
2. Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;
3. Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi;
4. Vi phạm quy định tại Điều 13 của Luật này".
Khi có một trong các căn cứ nêu trên và theo yêu cầu của người có quyền yêu cầu thì việc nuôi con nuôi sẽ chấm dứt.
Điều 26 Luật Nuôi con nuôi quy định Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi như sau :
« 1. Cha mẹ nuôi.
2. Con nuôi đã thành niên.
3. Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi.
4. Cơ quan, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khi có một trong các căn cứ quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 25 của Luật này:
a) Cơ quan lao động, thương binh và xã hội;
b) Hội liên hiệp phụ nữ”.
Về hệ quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi, Điều 27 Luật Nuôi con nuôi quy định như sau:
"1. Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Trường hợp con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động thì Tòa án quyết định giao cho cha mẹ đẻ hoặc tổ chức, cá nhân khác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục vì lợi ích tốt nhất của người đó.
3. Trường hợp con nuôi được giao cho cha mẹ đẻ thì các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đã chấm dứt theo quy định tại khoản 4 Điều 24 của Luật này được khôi phục.
4. Trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công lao đóng góp vào khối tài sản chung của cha mẹ nuôi thì được hưởng phần tài sản tương xứng với công lao đóng góp theo thỏa thuận với cha mẹ nuôi; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Con nuôi có quyền lấy lại họ, tên của mình như trước khi được cho làm con nuôi”
Khi cháu trưởng thành hay vì một lý do nào đó, cháu muốn về với gia đình của mình thì pháp luật hoàn toàn có thể thừa nhận điều này.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật - Công ty luật Minh Khuê

-------------------------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Tư vấn pháp luật lao động;

2. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

3.Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

4. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

6. Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng;