1. Sau khi cho con nuôi Cha Mẹ đẻ có quyền gì ?

Thưa luật sư, Xin cho hỏi, trước lúc kết hôn Cô của con tôi muốn xin cháu làm con nuôi, vậy sau khi vợ chồng tôi cho cháu làm con nuôi được chấp nhận thì có phải trên mặt pháp lý cháu sẽ không còn là con của vợ chồng tôi nữa đúng không?
Kể từ ngày chau được cho làm con nuôi là cha mẹ đẻ như chúng tôi đây sẽ không có quyền hạn gì đối với con ruột của mình nữa hay không? và xin hỏi sau khi cháu cùng Cô được chồng bảo lãnh đi nước ngoài định cư, vậy thì sau này cháu có được cho phép trở về nước để thăm cha mẹ đẻ của mình được không? và khi cháu tới tuổi trưởng thành hay sau này vì một lý do nào khác cháu không muốn sống chung với cha mẹ nuôi nữa và muốn trở về Việt Nam ở cùng với cha mẹ đẻ của cháu thì có được chấp nhận hay không? và người làm cha mẹ như chúng tôi có quyền nhận lại con được không?
Mong được hồi âm sớm! Xin chân thành cảm ơn.
Người gửi: Kim Liên

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Ý kiến thứ nhất:

Thân chào bạn ! câu hỏi của bạn chúng tôi trả lời như sau:

1. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đối với con đã cho đi làm con nuôi.

Luật Nuôi con nuôi năm 2010 đã quy định rõ ràng, cụ thể về quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ nuôi và con nuôi. Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Điều 24 Luật Nuôi con nuôi quy định Hệ quả của việc nuôi con nuôi :

« 1. Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi.

Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.

3. Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.

4. Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi ».

Như vậy về măt pháp lí kể từ ngày giao nhận con nuôi cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lí dịnh đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi, nếu như giữa cha mẹ nuôi và cha mẹ đẻ không có thỏa thuận gì khác. Còn việc sau này con của bạn có được về thăm bạn hay không ? chúng tôi trả lời như sau : Pháp luật không cấm việc con đã cho đi làm con nuôi quay về thăm cha mẹ đẻ của mình.

2. Chấm dứt việc nuôi con nuôi

Điều 25 Luật Nuôi con nuôi quy định Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi như sau :

« Việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi;

2. Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;

3. Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi;

4. Vi phạm quy định tại Điều 13 của Luật này ».

Khi có một trong các căn cứ nêu trên và theo yêu cầu của người có quyền yêu cầu thì việc nuôi con nuôi sẽ chấm dứt.

Điều 26 Luật Nuôi con nuôi quy định Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi như sau :

« 1. Cha mẹ nuôi.

2. Con nuôi đã thành niên.

3. Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi.

4. Cơ quan, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khi có một trong các căn cứ quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 25 của Luật này:

a) Cơ quan lao động, thương binh và xã hội;

b) Hội liên hiệp phụ nữ”.

Về hệ quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi, Điều 27 Luật Nuôi con nuôi quy định như sau:

"1. Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Trường hợp con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động thì Tòa án quyết định giao cho cha mẹ đẻ hoặc tổ chức, cá nhân khác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục vì lợi ích tốt nhất của người đó.

3. Trường hợp con nuôi được giao cho cha mẹ đẻ thì các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đã chấm dứt theo quy định tại khoản 4 Điều 24 của Luật này được khôi phục.

4. Trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công lao đóng góp vào khối tài sản chung của cha mẹ nuôi thì được hưởng phần tài sản tương xứng với công lao đóng góp theo thỏa thuận với cha mẹ nuôi; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Con nuôi có quyền lấy lại họ, tên của mình như trước khi được cho làm con nuôi”.

Như vậy, nếu việc con đã cho đi làm con nuôi trở về với cha mẹ đẻ, thì các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đã chấm dứt sẽ được khôi phục lại.

Ý kiến thứ hai:

Cảm ơn chị đã gửi câu hỏi tới chuyên mục hỏi/đáp pháp luật của chúng tôi. Câu hỏi của chị xin được tư vấn như sau:

Kể từ ngày cháu được cho làm con nuôi là cha mẹ đẻ như chúng tôi đây sẽ không có quyền hạn gì đối với con ruột của mình nữa hay không?

Nghị định 19/2011/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi

Điều 24 của Luật số 52/2010/QH12 của Quốc hội ban hành ngày 17-6-2010 về nuôi con nuôi quy định về hệ quả của việc nuôi con nuôi như sau:

1. Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi.

Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.

3. Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.

4. Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi.

Như vậy, trừ khi giữa vợ chồng chị và cha mẹ nuôi của đứa bé có thỏa thuận khác thì mọi quyền và nghĩa vụ của vợ chồng chị đối với đứa bé được chuyển giao sang cho cha mẹ nuôi vào thời điểm giao nhận đứa bé làm con nuôi. Kể từ thời điểm đó, cha mẹ đẻ của đứa bé ( vợ chồng chị) không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với đứa bé.

Hỏi sau khi cháu cùng Cô được chồng bảo lãnh đi nước ngoài định cư, vậy thì sau này cháu có được cho phép trở về nước để thăm cha mẹ đẻ của mình được không? và khi cháu tới tuổi trưởng thành hay sau này vì một lý do nào khác cháu không muốn sống chung với cha mẹ nuôi nữa và muốn trở về Việt Nam ở cùng với cha mẹ đẻ của cháu thì có được chấp nhận hay không? và người làm cha mẹ như chúng tôi có quyền nhận lại con được không?

Điều 25 Luật nuôi con nuôi quy định :

Điều 25. Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi

Việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi;

2. Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;

3. Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi;

4. Vi phạm quy định tại Điều 13 của Luật này. ( tức phạm vào các hành vi bị cấm)

( trích « Điều 13. Các hành vi bị cấm

1. Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục; bắt cóc, mua bán trẻ em.

2. Giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi.

3. Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi.

4. Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số.

5. Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước.

6. Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi.

7. Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.”

Điều 26. Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

1. Cha mẹ nuôi.

2. Con nuôi đã thành niên.

3. Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi.

4. Cơ quan, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khi có một trong các căn cứ quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 25 của Luật này:

a) Cơ quan lao động, thương binh và xã hội;

b) Hội liên hiệp phụ nữ.

Điều 27. Hệ quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi

1. Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Trường hợp con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động thì Tòa án quyết định giao cho cha mẹ đẻ hoặc tổ chức, cá nhân khác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục vì lợi ích tốt nhất của người đó.

3. Trường hợp con nuôi được giao cho cha mẹ đẻ thì các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đã chấm dứt theo quy định tại khoản 4 Điều 24 của Luật này được khôi phục.

4. Trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công lao đóng góp vào khối tài sản chung của cha mẹ nuôi thì được hưởng phần tài sản tương xứng với công lao đóng góp theo thỏa thuận với cha mẹ nuôi; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Con nuôi có quyền lấy lại họ, tên của mình như trước khi được cho làm con nuôi.

Sau khi cháu cùng Cô được chồng bảo lãnh đi nước ngoài định cư sau này cháu có thể được cho phép trở về nước để thăm cha mẹ đẻ của mình ( tất nhiên điều này phải dựa vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể cũng như nguyện vọng của đứa trẻ,…) Trên thực tế thì bạn có thể thỏa thuận với cha mẹ nuôi của đứa trẻ để bạn thường xuyên thăm nom chăm sóc con của mình. Tuy nhiên về pháp lý thì quan hệ nuôi con nuôi vẫn tồn tại hợp pháp.

Khi cháu tới tuổi trưởng thành hay sau này vì một lý do nào khác cháu không muốn sống chung với cha mẹ nuôi nữa và muốn trở về Việt Nam ở cùng với cha mẹ đẻ của cháu thì điều này chỉ được chấp nhận khi có một trong các căn cứ quy định tại Điều 25 Luật nuôi con nuôi và khi ấy vợ chồng bạn có quyền nhận lại con.

Ý kiến bổ sung thứ 3:

Chào bạn, rất cám ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Đối với trường hợp của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Trước lúc kết hôn thì cô của con bạn có nhận cháu làm con nuôi. Theo luật nuôi con nuôi năm 2010 tại điều 24 thì: “Hệ quả của việc nuôi con nuôi

1. Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi.
Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.
3. Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.
4. Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi.

Vậy thì trong trường hợp này, trừ trường hợp gia đình bạn với gia đình bên kia có những sự thỏa thuận khác như là thăm nom, chăm sóc...nếu không có thỏa thuận khác thì kể từ ngày giao nhận con nuôi, gia đình bạn sẽ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng hay cấp dưỡng...đối với con đã cho làm con nuôi nữa.

Sau khi con bạn được chồng bảo lãnh sang nước ngoài định cư thì sau này cháu hoàn toàn được phép trở về nước thăm cha mẹ đẻ của mình, pháp luật không cấm con đã cho làm con nuôi về thăm bố mẹ ruột của mình.

Khi cháu đến tuổi trưởng thành muốn về nước thăm cha mẹ đẻ của mình hay vì một lý do khác cháu muốn nhận lại bố mẹ ruột của mình. Theo quy định tại luật nuôi con nuôi thì trường hợp chấm dứt :

2. Chấm dứt việc nuôi con nuôi

Điều 25 Luật Nuôi con nuôi quy định Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi như sau :
"Việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
1. Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi;
2. Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;
3. Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi;
4. Vi phạm quy định tại Điều 13 của Luật này".

Khi có một trong các căn cứ nêu trên và theo yêu cầu của người có quyền yêu cầu thì việc nuôi con nuôi sẽ chấm dứt.

Điều 26 Luật Nuôi con nuôi quy định Tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi như sau :
« 1. Cha mẹ nuôi.
2. Con nuôi đã thành niên.
3. Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của con nuôi.
4. Cơ quan, tổ chức sau đây có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi khi có một trong các căn cứ quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 25 của Luật này:
a) Cơ quan lao động, thương binh và xã hội;
b) Hội liên hiệp phụ nữ”.

Về hệ quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi, Điều 27 Luật Nuôi con nuôi quy định như sau:

"1. Quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Trường hợp con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động thì Tòa án quyết định giao cho cha mẹ đẻ hoặc tổ chức, cá nhân khác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục vì lợi ích tốt nhất của người đó.
3. Trường hợp con nuôi được giao cho cha mẹ đẻ thì các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ đã chấm dứt theo quy định tại khoản 4 Điều 24 của Luật này được khôi phục.
4. Trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công lao đóng góp vào khối tài sản chung của cha mẹ nuôi thì được hưởng phần tài sản tương xứng với công lao đóng góp theo thỏa thuận với cha mẹ nuôi; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Con nuôi có quyền lấy lại họ, tên của mình như trước khi được cho làm con nuôi”

Khi cháu trưởng thành hay vì một lý do nào đó, cháu muốn về với gia đình của mình thì pháp luật hoàn toàn có thể thừa nhận điều này.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án

>> Xem thêm:  Con nuôi là gì ? Đăng ký nhận con nuôi như thế nào ? Điều kiện để người nước ngoài nhận con nuôi ?

2. Tranh chấp quan hệ nuôi con nuôi: Từ con nuôi thế nào ?

Vợ chồng ông T.V.V kết hôn với nhau từ năm 1960 nhưng hiếm muộn, không có con. Tháng 7-1975, ông bà được một hộ lý quen biết giới thiệu nhận nuôi một đứa bé trai bị bỏ rơi tại bệnh viện ngay từ khi mới chào đời.

Cực chẳng đã nhiều bậc cha mẹ già mới dứt tình ra tòa xin chấm dứt mối quan hệ với đứa con nuôi đã thành niên ngỗ nghịch, bất hiếu. Thế nhưng nhiều trường hợp đang bế tắc vì ngành tòa án từ chối thụ lý…

Nuôi ong tay áo

Vui mừng khôn xiết, ông bà V. làm thủ tục nhận đứa bé làm con nuôi. Từ ngày trong nhà có tiếng trẻ thơ bi bô, gia đình ông bà trở nên rất hạnh phúc, không ngớt niềm vui, tiếng cười. Ông bà cần mẫn làm lụng, dành dụm nuôi đứa con khôn lớn. Đến tuổi lấy chồng lấy vợ, ông bà cũng không tiếc tiền dành dụm lấy ra để lo liệu cho con một đám cưới nở mày nở mặt với mọi người.

Vậy mà từ lúc cưới vợ về xong, người con nuôi trở nên trái tính trái nết. Đã ở lỳ ăn bám cha mẹ, không chịu đi làm, người con nuôi còn hay vòi vĩnh tiền bạc, gây sự, chửi cha mắng mẹ. Khuyên bảo con mãi không được nhưng còn nặng lòng thương, ông bà V. bèn mua một mảnh đất ở vùng ven, xây nhà làm chỗ ở cho gia đình nhỏ của con.

Sau khi có nhà mới, người con vẫn thường quấy rối cha mẹ nuôi bằng cách rủ bạn bè về nhà cha mẹ nuôi tổ chức ăn nhậu rồi ở lại, sau đó mượn rượu để chửi mắng cha mẹ thậm tệ. Tình trạng này cứ lặp đi lặp lại. Cuối cùng chịu hết xiết, ông bà V. đành ngậm ngùi cùng nhau nộp đơn yêu cầu tòa án một quận ở TP.HCM cho chấm dứt mối quan hệ với con nuôi. Ông bà nghĩ rằng việc chấm dứt như vậy cũng là điều kiện pháp lý để sau này khỏi phải để lại tài sản cũng như khỏi bị mang tai tiếng là “ở ác mới có đứa con nuôi bất hiếu, phản phúc”.

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình trực tuyến

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Thụ lý hay không?

Nhận đơn, tòa rất lúng túng, không biết có nên thụ lý hay không. Ngay trong nội bộ tòa cũng phát sinh nhiều quan điểm khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng tòa không thể thụ lý bởi theo luật, việc chấm dứt nuôi con nuôi là việc dân sự, tòa muốn thụ lý phải có điều kiện. Theo Điều 76 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, tòa có thể quyết định việc chấm dứt nuôi con nuôi trong một số trường hợp: Cha mẹ và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi. Nếu một bên không tự nguyện thì việc chấm dứt quan hệ chỉ khi người con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi.

Ở đây, người con nuôi đã có đơn gửi đến tòa không đồng tình với việc ông bà V. chấm dứt mối quan hệ. Hơn nữa, người con cũng không bị kết án, không ngược đãi, hành hạ hoặc phá phách tài sản của cha mẹ nuôi mà chỉ chửi bới, không tôn trọng, thương yêu cha mẹ thôi…

Ngược lại, luồng quan điểm thứ hai cho rằng tòa hoàn toàn có thể thụ lý mà không cần phải xét đến điều kiện gì cả. Theo các ý kiến này, Điều 76 Luật Hôn nhân và Gia đình chỉ quy định về các trường hợp tòa quyết định cho chấm dứt nuôi con nuôi chứ không phải là điều kiện để tòa thụ lý hay không. Nói cách khác, ở vụ việc này, tòa cứ việc tiến hành thụ lý và giải quyết theo trình tự việc dân sự như bình thường mà không cần kèm theo điều kiện.

Vụ việc của ông bà V. chỉ là một trong nhiều trường hợp xin chấm dứt mối quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi đã thành niên đang bế tắc hiện nay. Để tránh lúng túng cho các tòa cấp dưới, nhiều ý kiến đề xuất TAND Tối cao cần có hướng dẫn cụ thể.

Thụ lý, bị kháng nghị

Trước đây, tòa án một huyện ở tỉnh Hải Dương từng thụ lý, chấp nhận yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi của một cặp vợ chồng già với đứa con trai nuôi đã thành niên rất ngỗ nghịch, quậy phá, bất hiếu.

Bản án sơ thẩm này đã bị VKS tỉnh kháng nghị. Theo VKS tỉnh, tòa sơ thẩm đã thụ lý, giải quyết yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi theo thủ tục việc dân sự mà không đủ điều kiện thụ lý. Thứ hai, tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của cha mẹ nuôi khi chưa đủ cơ sở xác định anh con nuôi đã bị kết án về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi…

Nên sửa luật

Trong đời sống, nhiều lúc quan hệ giữa cha mẹ nuôi – con nuôi đã thành niên có mâu thuẫn thật sự, ảnh hưởng về quyền lợi của đôi bên nhưng không thể chứng minh được theo đúng như quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Chẳng hạn con nuôi đã thành niên ngang ngược, hỗn hào với cha mẹ nuôi, làm cha mẹ nuôi phải lâm vào tình trạng bất an, phiền muộn. Những hành vi trên của con nuôi chưa đến mức ngược đãi, hành hạ hay phá tán tài sản của cha mẹ nuôi nhưng cha mẹ nuôi khó mà tiếp tục sống chung với con nuôi được nữa. Nếu như tòa không chấp nhận yêu cầu chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi thì hậu quả xảy ra sẽ là gì?

Theo tôi, nên sửa luật theo hướng chỉ cần một trong các bên yêu cầu tòa ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi đã thành niên là tòa thụ lý, giải quyết. Vì khi một trong các bên đã không còn muốn giữ quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi nữa thì có cố giữ lại mối quan hệ này cũng chẳng còn ý nghĩa gì nữa.

Luật sư NGUYỄN HỮU THẾ TRẠCH (Đoàn Luật sư TP.HCM)

(MINH KHUE LAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Mẫu báo cáo tình hình phát triển của con nuôi trong nước ? Thủ tục cho nhận con nuôi ?

3. Nhận con nuôi của vợ làm con nuôi có được không ?

Chào luật sư. Tôi đang có con gái nuôi năm nay 14 tuổi. Trước khi tôi nhận con gái nuôi làm con nuôi là tôi chưa kết hôn, nay tôi đã kết hôn với chồng tôi, và chúng tôi muốn cháu làm con nuôi của cả hai vợ chồng để trong giấy khai sinh sau này cháu có đầy đủ bố mẹ và để được đổi họ cháu theo họ bố nuôi (chồng tôi) nhưng vợ chồng tôi lên ubnd xã địa phương họ nói chưa có quy định nào chồng được nhận con nuôi của vợ làm con nuôi.
Vậy cho tôi hỏi luật sư tư vấn dùm tôi tình trạng như tôi nói trên ạ. Vợ chồng tôi phải làm thế nào có thể cho con gái nuôi tôi nhận chồng tôi làm cha nuôi không ạ ?
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Luật sư trả lời:

Thứ nhất, Vấn đề nhận con riêng của vợ làm con nuôi:

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng như Luật Nuôi con nuôi năm 2010 không chia tách ra làm: con đẻ và con nuôi mà chỉ quy định chung là con riêng của vợ hoặc chồng. Đồng thời Luật nuôi con nuôi 2010 cũng quy định kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con. Như vậy, người con nuôi hiện tại của bạn được coi là con riêng; còn chồng của bạn được coi là “cha dượng” của đứa bé.

"Điều 24. Hệ quả của việc nuôi con nuôi
1. Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi.
Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.
3. Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.
4. Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi."
- Luật nuôi con nuôi 2010

Bên cạnh đó Luật Nuôi con nuôi 2010 cũng quy định về Thứ tự ưu tiên lựa chon gia đình thay thế như sau:

"Điều 5. Thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế
1. Thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế được thực hiện quy định sau đây:
a) Cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;
b) Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước;
c) Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam;
d) Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;
đ) Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài.
2. Trường hợp có nhiều người cùng hàng ưu tiên xin nhận một người làm con nuôi thì xem xét, giải quyết cho người có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nuôi tốt nhất."

Như vậy, nếu chồng bạn muốn nhận con riêng (con nuôi của bạn) làm con nuôi thì thực hiện thủ tục theo như quy định của Luật nuôi con nuôi 2010.

Thứ hai, Thủ tục hồ sơ nhận nuôi con nuôi:

Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi có thẩm quyền thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi. Bố bạn phải lập hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi theo các Điều 17,18 Luật Nuôi con nuôi và tiến hành thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi được quy định tại các Điều 7, 8, 9 và khoản 1, 3 Điều 10 của Nghị định 19//2011/NĐ-CP, cụ thể:
Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm:
1- Đơn xin nhận con nuôi (theo mẫu do Bộ Tư pháp quy định).
2- Bản sao Hộ chiếu, Giấy CMND hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;
3- Phiếu lý lịch tư pháp.
4- Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân
5- Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp và văn bản xác nhận về hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do UBND cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp (trừ trường hợp người xin nhận con nuôi thuộc diện được miễn các điều kiện này theo quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật Nuôi con nuôi).
6- Phiếu lý lịch tư pháp, giấy khám sức khỏe, văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi trong nước chỉ có giá trị sử dụng nếu được cấp chưa quá 6 tháng, tính đến ngày nộp hồ sơ tại UBND cấp xã.
Hồ sơ của người được nhận làm con nuôi gồm:
1- Bản sao Giấy khai sinh;
2- Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;
3- Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng không chụp quá 6 tháng;
4- Tùy từng trường hợp cụ thể mà phải có giấy tờ sau:
+ Biên bản do UBND xã hoặc Công an xã lập đối với trường hợp trẻ em bị bỏ rơi;
+ Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em đã chết đối với trẻ em mồ côi;
+ Quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em bị mất tích đối với trường hợp trẻ em có cha, mẹ đẻ bị mất tích hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em bị mất năng lực hành vi dân sự đối với trường hợp trẻ em có cha đẻ, mẹ đẻ bị mất năng lực hành vi dân sự;
+ Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.
Về việc Đăng ký khai sinh: Sau khi làm các thủ tục về nhận nuôi con nuôi, việc đăng ký được thực hiện theo quy định pháp luật về hộ tịch.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Mẫu tờ khai hoàn cảnh gia đình của người nhận con nuôi ? Quyền chấm dứt việc nuôi con nuôi ?

4. Tư vấn cắt bỏ hộ khẩu của con nuôi ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Mẹ tôi có nhận con nuôi thay cho dì tôi ! Nhập vào hộ khẩu ghi là mẹ tôi là mẹ nó ! Vì bản tính nó nên gia đình ko thể dạy dỗ được nên gửi vào chùa nuôi dạy nay nó đã 14 tuổi nhưng vẫn có hành vi ăn cắp và liên kết người ngoài gây rối trong chùa !nay chùa xin trả lại vì ko thể dạy dỗ được nữa !nay tôi muốn hỏi làm sao để cắt bỏ hộ khẩu nó hoặc có nơi nào để gửi nó vào vì gia đình tôi không muốn rắc rối ?
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Người gửi: P.L

Tư vấn cắt bỏ hộ khẩu của con nuôi ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Theo điều 25 Luật nuôi con nuôi năm 2010:

Việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi;

2. Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;

3. Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi;

4. Vi phạm quy định tại Điều 13 của Luật này.

Theo điều 20 Bộ luật dân sự năm 2015

Điều 20. Người thành niên

1. Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên.

2. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này.

Điều 21. Người chưa thành niên

1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.

Theo khoản 1 điều 22 Luật Cư trú số 81/2006/QH11 :

Điều 22. Xoá đăng ký thường trú

1. Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị xoá đăng ký thường trú:

a) Chết, bị Toà án tuyên bố là mất tích hoặc đã chết;

b) Được tuyển dụng vào Quân đội nhân dân, Công an nhân dân ở tập trung trong doanh trại;

c) Đã có quyết định huỷ đăng ký thường trú quy định tại Điều 37 của Luật này;

d) Ra nước ngoài để định cư;

đ) Đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới; trong trường hợp này, cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy chuyển hộ khẩu để xoá đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ.

Theo thông tin của bạn, Người con nuôi này mới 14 tuổi nghĩa là người chưa thành niên. Do đó theo điều 25 Luật nuôi con nuôi năm 2010 thì việc nuôi con nuôi không thể chấm dứt, điều này đồng nghĩa với việc không thể xóa đăng ký thường trú cho Người con nuôi này trừ trường hợp người con nuôi này đã đăng ký thường trú ở nơi cư trú mới; trong trường hợp này, cơ quan đã làm thủ tục đăng ký thường trú cho công dân ở nơi cư trú mới có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy chuyển hộ khẩu để xoá đăng ký thường trú ở nơi cư trú cũ.

Tuy nhiên gia đình bạn có thể nhờ pháp luật can thiệp nếu có bằng chứng xác thực chứng minh được hành vi trộm cắp tài sản của Người con nuôi.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Trộm cắp tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Như vậy, tội trộm cắp tài sản của người con nuôi chưa thành niên có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ một năm đến hai năm. Tuy nhiên Toà án có thể áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ một năm đến hai năm đối với người chưa thành niên phạm tội, nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần đưa người đó vào một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ. >> Xem thêm: Nghị định Số: 02/2014/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin nhận con nuôi trong nước ? Mẫu đơn xin trẻ em Việt Nam làm con nuôi ?

5. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ khi nhận con nuôi ?

Thưa luật sư, Bà nội tôi có 5 người con, 4 trai 1 gái. Trong 5 người con thì 2 người hy sinh, 2 bác hy sinh thì 1 bác trước đó được em trai của ông nội tôi nuôi ( cho con nuôi), trường hợp này bà nội tôi có được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng hay không a? nếu được thì trình tự hồ sơ gia đình chúng tôi bắt đầu trình từ cấp nào ? phòng ban nào đi ạ ? hồ sơ bao gồm những gì ạ? Gia đình giờ chỉ con giữ được bằng khen về tổ quốc ghi công của 2 bác hy sinh, ngoài ra giấy cho và nhận con nuôi đều thất lạc cả ?
Mong luật sư tư vấn ạ.

Luật sư tư vấn:

Các vấn đề pháp lý về nhận con nuôi, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nhận con nuôi, nghĩa vụ của con nuôi. Nhận con nuôi đố với người nước ngoài. Thủ tục cho con nhận con nuôi.

Căn cứ quy định tại Nghị định số 56/2013/NĐ-CP quy định:

" Điều 2. Đối tượng được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”

1. Những bà mẹ thuộc một trong các trường hợp sau đây được xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”:

a) Có 2 con trở lên là liệt sỹ;

b) Chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sỹ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

c) Chỉ có 1 con mà người con đó là liệt sỹ;

d) Có 1 con là liệt sỹ và có chồng hoặc bản thân là liệt sỹ;

đ) Có 1 con là liệt sĩ và bản thân là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên.

Người con là liệt sỹ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công”, bao gồm con đẻ, con nuôi theo quy định của pháp luật.

Người chồng là liệt sỹ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” mà bà mẹ là vợ của người đó.

Thương binh quy định tại Điểm b, Điểm đ Khoản 1 Điều này là người đã được cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận thương binh, bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, bao gồm cả người còn sống và người đã từ trần.

Trường hợp bà mẹ có chồng, con tham gia hàng ngũ địch nhưng bà mẹ chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thì vẫn được xem xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước ‘‘Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

2. Những trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này nhưng phản bội, đầu hàng địch, có hành động gây nguy hại cho cách mạng hoặc vi phạm pháp luật bị Tòa án xét xử bằng hình thức phạt tù mà bản án, quyết định của Tòa án đang có hiệu lực pháp luật (kể cả trường hợp được hưởng án treo) thì không được xét tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Như vậy, căn cứ quy định trên việc 1 người bác đã hi sinh đi làm con nuôi nếu đến thời điểm hiện tại không có căn cứ chứng minh được rằng người bác đó đã đi làm con nuôi của gia đình khác và cả 2 người bác đã hi sinh này đều được công nhận là liệt sĩ thì bà nội bạn có thể được xem xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng thuộc quy định tại điểm a, khoản 1, điều 2 như trên.

Hồ sơ, trình tự, thủ tục bạn có thể tham khảo tại điều 4, điều 5 nghị định số 56/2013/ NĐ-CP như sau:

" Điều 4 Hồ sơ xét duyệt và đề nghị

1. Hồ sơ xét duyệt, gồm:

a) Bản khai cá nhân theo Mẫu số 01a/BMAH; thân nhân của bà mẹ kê khai theo Mẫu số 01b/BMAH, kèm theo giấy ủy quyền theo Mẫu số 02/BMAH;

b) Bản sao Bằng Tổ quốc ghi công, Giấy chứng nhận thương binh có chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã.

2. Hồ sơ đề nghị xét tặng hoặc truy tặng, gồm:

a) Các giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều này;

b) Biên bản xét duyệt của Ủy ban nhân dân cấp xã theo Mẫu số 03/BMAH;

c) Tờ trình kèm theo danh sách theo Mẫu số 04/BMAH đề nghị tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Điều 5. Trình tự, thủ tục

1. Bà mẹ hoặc thân nhân của bà mẹ lập bản khai cá nhân hoặc thân nhân (01 bản chính) kèm theo giấy tờ làm căn cứ xét duyệt (03 bộ), nộp về Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bà mẹ đăng ký hộ khẩu thường trú (đối với bà mẹ còn sống) hoặc nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của người được ủy quyền kê khai.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định có trách nhiệm:

a) Tổ chức họp xét duyệt hồ sơ của từng trường hợp đề nghị tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” với thành phần đại diện cấp ủy, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, quân sự, công an và các đoàn thể có liên quan;

b) Lập hồ sơ (03 bộ), ký Tờ trình kèm theo danh sách trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định có trách nhiệm:

a) Chỉ đạo cơ quan được giao tiếp nhận hồ sơ, tổ chức thẩm định theo quy định;

b) Ký Tờ trình kèm theo danh sách và hồ sơ (03 bộ) trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định có trách nhiệm:

a) Chỉ đạo cơ quan được giao tiếp nhận hồ sơ, tổ chức thẩm định theo quy định;

b) Ký Tờ trình kèm theo danh sách và hồ sơ (03 bộ) trình Thủ tướng Chính phủ.

5. Bộ Nội vụ trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, có trách nhiệm thẩm định hồ sơ, trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị Chủ tịch nước xem xét, quyết định tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

6. Một số quy định chung:

a) Thời gian xét tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” hàng năm được tiến hành 03 đợt vào các dịp: Ngày giải phóng miền Nam 30 tháng 4; ngày Quốc khánh 02 tháng 9 và Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 tháng 12;

b) Trường hợp người kê khai không lưu giữ được giấy tờ làm căn cứ xét duyệt theo quy định tại Khoản 1 Điều này thì có đơn gửi Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội xác nhận để làm căn cứ lập hồ sơ;

c) Trường hợp người con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên đang ở Trung tâm Điều dưỡng thương binh hoặc cư trú ở địa phương khác thì có đơn gửi Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi quản lý thương binh xác nhận để làm căn cứ lập hồ sơ;

d) Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, hợp lệ theo quy định, trong thời hạn 05 ngày làm việc, Ủy ban nhân dân cấp xét duyệt trả lại hồ sơ và thông báo lý do bằng văn bản. Trường hợp hồ sơ chưa rõ ràng thì yêu cầu kiểm tra, xác minh làm rõ".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận luật sư tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản giao nhận con nuôi mới nhất ? Thủ tục làm con nuôi cho người nước ngoài ?