1. Số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính được hiểu như thế nào?
Vào ngày 02/11/2022, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 65/2022/TT-BTC để chi tiết hóa Khoản 2, Điều 91 của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP. Thông tư này sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2023 và thay thế Thông tư số 149/2014/TT-BTC, được ban hành vào ngày 10/10/2014, của Bộ trưởng Bộ Tài chính, đề cập đến việc quy định về số lợi bất hợp pháp có được thông qua việc vi phạm hành chính để góp vào ngân sách nhà nước. Dưới đây là một số điểm cần lưu ý trong Thông tư này:
Định nghĩa về "Số lợi bất hợp pháp": Số lợi bất hợp pháp là số tiền, giấy tờ có giá, hoặc tài sản khác có được thông qua việc vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 37 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điểm e, Khoản 3, Điều 4 của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP và Khoản 2, Điều 3 của Nghị định số 17/2022/NĐ-CP, trong các lĩnh vực như thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
Dựa trên định nghĩa trên, số lợi bất hợp pháp thực tế tồn tại dưới 03 dạng chính:
- Số tiền (đây là dạng phổ biến nhất trong thực tế).
- Giấy tờ có giá.
- Tài sản khác.
Pháp luật quy định các phương thức tính toán khác nhau cho mỗi loại số lợi này.
2. Nguyên tắc xác định số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm hành chính
- Quy trình xác định số lợi bất hợp pháp được thực hiện bởi người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và được ghi lại trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Có hai điểm quan trọng cần lưu ý với quy định này:
+ Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến vụ việc đó là người chịu trách nhiệm xác định số lợi bất hợp pháp.
+ Số lợi bất hợp pháp phải được đề cập rõ trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
- Số lợi bất hợp pháp được xác định từ thời điểm tổ chức hoặc cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính đến khi hành vi đó kết thúc hoặc có quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Quy định này giúp xác định khoảng thời gian để tính số lợi bất hợp pháp từ thời điểm hành vi vi phạm đến khi quyết định xử phạt được thực hiện hoặc biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng.
- Trong trường hợp tổ chức hoặc cá nhân thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính, số lợi bất hợp pháp sẽ được xác định từng hành vi một. Nếu tổ chức hoặc cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính nhiều lần, số lợi bất hợp pháp sẽ được xác định riêng biệt cho mỗi lần vi phạm. Quy định này nhấn mạnh rằng, số lợi bất hợp pháp cần được xác định rõ ràng, tuân thủ nguyên tắc phân biệt và tính toán theo từng hành vi hoặc lần vi phạm riêng lẻ.
3. Số lợi bất hợp pháp là tiền VPHC lĩnh vực thương mại xác định như thế nào?
Vào ngày 02/11/2022, Bộ Tài chính đã phát hành Thông tư 65/2022/TT-BTC để chi tiết hóa Khoản 2 của Điều 91 trong Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, liên quan đến việc xác định số lợi bất hợp pháp có được từ việc thực hiện hành vi vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Cụ thể, số lợi bất hợp pháp này bao gồm tiền, giấy tờ có giá, vật phẩm và tài sản khác thu được từ việc vi phạm hành chính, hoặc số tiền tương đương với giá trị của tang vật, phương tiện đã bị tiêu thụ, tẩu tán hoặc tiêu hủy trái pháp luật trong các lĩnh vực thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, để nộp vào ngân sách nhà nước.
Theo đó, quy trình xác định số lợi bất hợp pháp được thực hiện bởi người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và ghi lại trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Số lợi bất hợp pháp được xác định từ thời điểm tổ chức hoặc cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính đến khi hành vi đó kết thúc hoặc có quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Trong trường hợp tổ chức hoặc cá nhân thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính, số lợi bất hợp pháp sẽ được xác định cho từng hành vi một. Nếu tổ chức hoặc cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính nhiều lần, số lợi bất hợp pháp sẽ được xác định riêng biệt cho mỗi lần vi phạm.
Số lợi bất hợp pháp được định nghĩa là toàn bộ số tiền thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm hành chính, sau khi trừ đi các chi phí trực tiếp liên quan, dựa trên hồ sơ, chứng từ chứng minh tính hợp pháp, hợp lệ của các chi phí này do tổ chức hoặc cá nhân vi phạm cung cấp. Đối với việc chuyển nhượng, tiêu thụ hàng cấm, hàng giả, hàng nhập lậu hoặc cung cấp dịch vụ kinh doanh có điều kiện, số lợi bất hợp pháp sẽ được xác định bằng toàn bộ số tiền thu được từ việc thực hiện các hành vi vi phạm này.
Hơn nữa, về việc xác định số lợi bất hợp pháp từ giấy tờ có giá, Thông tư quy định như sau: Số lợi bất hợp pháp thu được từ giấy tờ có giá bao gồm toàn bộ các loại giấy tờ có giá mà tổ chức hoặc cá nhân vi phạm hành chính thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm; giấy tờ có giá được xác định theo quy định tại khoản 1 của Điều này là các loại giấy tờ có giá theo quy định của Bộ Luật Dân sự và các loại khác theo quy định của Luật chuyên ngành. Trong trường hợp giấy tờ có giá đã được chuyển nhượng, số lợi bất hợp pháp sẽ được xác định dựa trên số tiền thực tế thu được tại thời điểm chuyển nhượng. Đối với những giấy tờ có giá đã bị tẩu tán, tiêu hủy, số lợi bất hợp pháp sẽ được xác định dựa trên giá trị sổ sách của tổ chức phát hành giấy tờ có giá vào thời điểm xảy ra tẩu tán hoặc tiêu hủy.
Đối với số lợi bất hợp pháp từ các vật phẩm, tài sản khác mà tổ chức hoặc cá nhân vi phạm thu được từ hành vi vi phạm hành chính, được xác định là các tài sản khác theo quy định của Bộ Luật Dân sự. Trong trường hợp vật phẩm, tài sản khác không thuộc danh mục hàng cấm, hàng giả, hàng hóa nhập lậu và đã được chuyển nhượng, tiêu thụ hoặc tiêu hủy, số lợi bất hợp pháp sẽ được xác định bằng số tiền tương đương với giá trị thị trường của tài sản cùng loại, hoặc dựa trên giá trị sổ sách của tài sản (nếu không có giá trị thị trường), hoặc dựa trên giá trị tiền của tài sản được ghi trên tờ khai hàng hóa xuất khẩu, tờ khai hàng hóa nhập khẩu (nếu là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu) của tổ chức hoặc cá nhân vi phạm, sau khi trừ đi các chi phí trực tiếp cấu thành hàng hóa, dịch vụ dựa trên hồ sơ, chứng từ chứng minh tính hợp pháp, hợp lệ của các chi phí đó. Trong trường hợp vật phẩm, tài sản khác thuộc danh mục hàng cấm, hàng giả, hàng hóa nhập lậu và đã được chuyển nhượng, tiêu thụ, số lợi bất hợp pháp sẽ được xác định là toàn bộ số tiền thu được khi thực hiện chuyển nhượng.
Ngoài ra, nếu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật, tổ chức hoặc cá nhân vi phạm sẽ phải nộp lại số tiền tương đương với trị giá của tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy.
Bài viết liên quan: Nộp lại tiền thu lợi bất chính có được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không?
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề: Số lợi bất hợp pháp là tiền VPHC lĩnh vực thương mại xác định như thế nào? Mọi thắc mắc về mặt pháp luật, mời quý khách hàng vui lòng liên hệ với Luật Minh Khuê qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ kịp thời. Xin cảm ơn quý bạn đọc đã quan tâm theo dõi!