1. Sơ lược về khách thể của tội phạm
Khách thể của một quan hệ pháp luật nói chung là những lợi ích vật chất, tinh thần và những lợi ích xã hội khác có thể thoả mãn những nhu cầu, đòi hỏi của các tổ chức hoặc cá nhân…. Khi tham gia vào bất kỳ quan hệ pháp luật nào, cá nhân hay tổ chức đều nhằm đạt tới những lợi ích đó. Tội phạm là một dạng hành vi hết sức đặc biệt vì nó tham gia vào quan hệ pháp luật không phải với tính tích cực mà là tiêu cực, không phải đem lại lợi ích cho các chủ thể trong quan hệ pháp luật mà là để gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội.
Dù sao chúng ta cũng có thể khẳng định rằng, hành vi phạm tội trong những điều kiện nhất định là nhằm vào những lợi ích cụ thể của chủ thể khi tham gia quan hệ đó. Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị bao giờ cũng thông qua Nhà nước và pháp luật để xác lập và củng cố các quan hệ xã hội cơ bản, phù hợp trước tiên là với lợi ích của giai cấp thống trị và sau đó là với lợi ích chung của toàn xã hội. Các quan hệ xã hội đó có tính chất, tầm quan trọng và ý nghĩa khác nhau nên được Nhà nước bảo vệ ở những mức độ khác nhau thể hiện sự cưỡng chế cao hoặc thấp đối với hành vi xâm hại đến các quan hệ đó. Đối với tội phạm, để mang lại lợi ích cho mình, chủ thể phạm tội đã gây ra những thiệt hại “đáng kể” cho lợi ích của xã hội (lợi ích chung của cộng đồng và lợi ích của giai cấp thống trị mà Nhà nước là người đại diện với tư cách là một bên trong quan hệ pháp luật hình sự), là hệ thống các quan hệ xã hội có ý nghĩa quan trọng nhất, trực hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến sự tồn tại của giai cấp thống trị. Hệ thống các quan hệ xã hội đó chính là khách thể của tội phạm. Tính nguy hiểm của từng hành vi phạm tội khác nhau sẽ được xem là khác nhau tuỳ thuộc vào hành vi đó xâm phạm đến những quan hệ xã hội nào, quan hệ xã hội đó ảnh hưởng ở mức độ nào đối với lợi ích và sự tồn tại của giai cấp thống trị. Bộ Quốc triều hình luật được xem là tinh hoa của pháp luật nước ta thời Phong kiến dù không khái quát được phạm vi khách thể của tội phạm nhưng nếu chịu khó nghiên cứu ta sẽ thấy phạm vi này là rất lớn từ trật tự quản lý hành chính đến tôn ti trật tự trong xã hội phong kiến (đạo đức), việc sử dụng ruộng đất, sự an toàn của quốc gia, bất khả xâm phạm thân thể. Điều này có thể được lý giải bởi sự ảnh hưởng của pháp luật bởi Nho giáo cũng như tính nghiêm khắc của pháp luật hình sự lúc bấy giờ. Ngoài ra, nghiên cứu hệ thống “Thập ác tội” (mười tội ác) tại Điều 2 ta thấy, nhà làm luật thời bấy giờ đã có ý thức xếp các hành vi xâm hại đến các quan hệ xã hội được cho là nguy hiểm nhất lên hàng đầu để xử lý trước với hình phạt nghiêm khắc nhất.
Đó là: Sự an nguy của xã tắc (mưu phản), an toàn nơi hoàng cung (mưu đại nghịch), trung với nước (mưu chống đối), an toàn thân thể của người thân (ác nghịch). Các công trình nghiên cứu luật cổ của những luật gia vào những năm thập niên 70 của thế kỷ 20 hầu như không mấy quan tâm đến khách thể của tội phạm. Đối với một tội phạm, họ chỉ đặc biệt quan tâm đến ba yếu tố: yếu tố pháp định, yếu tố thực thể và yếu tố tâm lý.68 Có lẽ họ cho rằng, không cần phải khái quát thành lý luận khách thể của tội phạm vì trong phần chung không thấy có quy định khái quát về phạm vi khách thể mà chỉ quy định trong từng điều luật cụ thể về tội phạm (thể hiện qua đối tượng phạm tội của từng tội phạm cụ thể). Quan điểm này thật sai lầm. Không thể nghiên cứu tội phạm mà thiếu đi một yếu tố hết sức quan trọng là khách thể của nó.
Mặt khác, đi sâu phân tích mặt khách thể của tội phạm về lý luận sẽ cho ta những kết quả bổ ích nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự, không bỏ sót tội phạm cũng như không hình sự hoá các hành vi vi phạm pháp luật khác thông qua việc xác định phạm vi của khách thể. Tìm kiếm trong các quy định của Bộ Hình luật Việt Nam cộng hoà 1972 cũng không thấy khái quát về phạm vi khách thể của tội phạm mà khách thể được thể hiện trực tiếp trong các Thiên, như Thiên thứ nhất về “an ninh quốc gia”, Thiên thứ hai về “chính quyền”, Thiên thứ ba về “trật tự công cộng”... Luật hình sự một số nước trên thế giới không giống nhau về việc quy định khái quát phạm vi khách thể của tội phạm. Bộ luật hình sự Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 1979 liệt kê rất cụ thể khách thể của tội phạm, gồm: chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, chế độ chuyên chính vô sản, sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội...(Điều l0). Bộ luật hình sự Liên bang Nga 1996 dù có quy định khái quát thế nào là tội phạm nhưng không liệt kê cụ thể khách thể của tội phạm (Điều 14). Bộ luật hình sự Nhật Bản không quy định khái quát thế nào là tội phạm nên cũng không cụ thể phạm vi khách thể mà được thể hiện trực tiếp trong từng chương về tội phạm...
>> Xem thêm: Khách thể của tội phạm là gì? Cho ví dụ khách thể của tội phạm
2. Khách thể của tội phạm theo Luật hình sự Việt Nam hiện hành
Như trên đã phân tích, khách thể của tội phạm là hệ thống các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại, trực hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến lợi ích và sự tồn tại của giai cấp thống trị được Nhà nước (đại diện cho giai cấp thống trị) bảo vệ bằng các quy phạm pháp luật hình sự. Theo luật hình sự Việt Nam, hệ thống các quan hệ đó được liệt kê tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự, đó là: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ chính trị, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân. . . những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi gây thiệt hại đến các quan hệ đó đều là hành vi phạm tội. Nội dung của hành vi gây thiệt hại phải đến mức “nguy hiểm đáng kể” mới bị coi là tội phạm (đã nói rõ ở bài Tội phạm). Các luật gia đứng trên quan điểm chính thống đều công nhận rằng, khái niệm khách thể của tội phạm nêu trên là không có gì bàn cãi. Tuy nhiên, cũng có một số quan điểm khác không hoàn toàn bác bỏ quan điểm chính thống mà họ khẳng định rằng, quan hệ xã hội chỉ là khách thể chung và khách thể loại, khách thể trực tiếp có thể không phải là các quan hệ xã hội mà đôi lúc nó giống như là đối tượng của tội phạm. Ví dụ: khách thể loại của các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ là các quan hệ xã hội mà con người là chủ thể, còn khách thể trực tiếp là con người, cũng như tài sản là khách thể trực tiếp của các tội phạm xâm phạm sở hữu. Ủng hộ quan điểm này, nhiều sách báo pháp lý đôi lúc dùng khái niệm “các tội phạm xâm phạm tài sản”. Để tránh sự nhầm lẫn về khái niệm, chúng ta cần làm sáng tỏ nội dung và cơ chế của việc gây thiệt hại của hành vi phạm tội đối với các quan hệ xã hội. Hành vi gây thiệt hại có thể được thể hiện ở nhiều mặt, hoặc là gây thiệt hại cho các chủ thể của quan hệ xã hội hoặc gây thiệt hại cho các nội dung của quan hệ xã hội hoặc gây thiệt hại cho điều kiện phát sinh và tồn tại của các mối quan hệ xã hội. Chính vì thế, khi nói đến các tội phạm xâm phạm về tài sản chẳng hạn, tài sản dù bị chiếm đoạt nhưng không hề bị thay đổi về lượng và chất mà chỉ thay đổi nội dung của quyền sở hữu (thay đổi chủ sở hữu). Ở các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ cũng vậy, tính mạng, sức khoẻ là một dạng của tồn tại xã hội, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ là xâm phạm đến chủ thể của tồn tại xã hội. Dù tội phạm có giết ai đi nữa thì vẫn là tội phạm giết người. Một con người cụ thể (đối tượng của tội phạm) không có giá trị đối với việc định tội. Đứng trên cơ sở này, cũng không nên xem khách thể của tội phạm là các quy phạm pháp luật. Nếu có nói rằng, tội phạm xâm phạm pháp luật hình sự là muốn ám chỉ tội phạm trái với pháp luật hình sự. Trên thực tế, các quy phạm pháp luật hình sự không chịu thiệt hại từ hành vi phạm tội, vì vậy nó không phải là khách thể của tội phạm.
3. Khách thể chung của tội phạm
Khách thể chung của tội phạm là tổng hợp tất cả các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại và được Luật hình sự bảo vệ. Theo Luật hình sự Việt Nam, khách thể chung của tội phạm là những quan hệ xã hội được xác định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự. Bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều gây phương hại đến khách thể chung là một trong những quan hệ xã hội được xác định tại khỏan 1 Điều 8. Chính vì vậy, thông qua khách thể chung, chúng ta có thể thấy được nhiệm vụ của Bộ luật hình sự và bản chất giai cấp của nó. Hay nói đúng hơn là thấy được chính sách hình sự của một quốc gia.
4. Khách thể loại của tội phạm
Khách thể loại của tội phạm là nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất được một nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ và bị một nhóm tội phạm xâm hại. Khách thể loại có vai trò quan trọng về mặt lập pháp. Nó là cơ sở để Bộ luật hình sự xây dựng các chương trong phần các tội phạm. Tội phạm trên thực tế dù rất đa dạng về các mặt chủ thể, chủ quan, khách quan nhưng nếu xâm hại đến các quan hệ xã hội có cùng tính chất sẽ được xếp chung vào một chương. Thông qua việc xem xét các nhóm khách thể nhất định, chúng ta có thể đánh giá được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cụ thể khi trực tiếp xâm hại đến một trong số các khách thể của nhóm. Việc sắp xếp các chương trong phần các tội phạm dựa theo khách thể loại là hết sức hợp lý và khoa học. Nếu chúng ta sắp xếp theo các cơ sở khác (chủ quan, chủ thể…) thì sẽ dẫn đến tình trạng nhiều tội phạm có bản chất rất khác nhau lại nằm cùng một chương. Điều này gây khó khăn rất lớn trong việc đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm và việc xử lý chúng. Danh mục các khách thể loại được nhà làm luật xác lập và quy định tuỳ thuộc vào tính chất và tầm quan trọng của chúng trong xã hội ở từng điều kiện cụ thể. Nếu chúng càng phát triển và trở thành một nhóm các quan hệ xã hội có ý nghĩa quan trọng thì sẽ được xác định là một khách thể loại độc lập. Chẳng hạn, các tội phạm về ma tuý được Bộ luật hình sự 1985 quy định rải rác trong các chương khác nhau. Tuy nhiên, trong Bộ luật hình sự 1999, chúng được quy định thành một chương các tội phạm về ma tuý. Nghĩa là, các quan hệ xã hội nảy sinh trong việc sử dụng, mua bán, vận chuyển, tàng trữ…chất ma tuý hiện tại đã trở thành một khách thể loại. Các tội phạm được quy định trong cùng một chương phần các tội phạm (có cùng khách thể loại) bao giờ cũng xâm hại đến khách thể loại của chúng. Tuy nhiên, từng tội phạm trong một chương đó không phải luôn xâm hại cùng khách thể trực tiếp. Điều đó có nghĩa là mỗi tội phạm có khách thể trực tiếp riêng của nó.
>> Tham khảo thêm: Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được quy định tại Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015?
5. Khách thể trực tiếp của tội phạm
Khách thể trực tiếp của tội phạm là một hoặc một số quan hệ xã hội cụ thể bị hành vi phạm tội cụ thể xâm hại. Thông qua việc gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại (xâm hại) đối với khách thể trực tiếp mà tội phạm đã gây phương hại đến khách thể chung và khách thể loại của tội phạm. Ví dụ: A trộm cắp tài sản của B. A đã xâm hại đến khách thể trực tiếp là quyền sở hữu tài sản của B và gây phương hại đến khách thể chung và khách thể loại là quyền sở hữu của công dân. Một tội phạm có thể xâm hại đến nhiều khách thể nhưng không phải lúc nào tất cả các khách thể đó đều được xem là khách thể trực tiếp. Khách thể trực tiếp khi đó là quan hệ xã hội mà tội phạm gây thiệt hại thể hiện được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Ví dụ: Hành vi trộm cắp dây điện thoại đang sử dụng vừa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu XHCN vừa gây thiệt hại cho an toàn thông tin liên lạc. Nhưng rõ ràng, thiệt hại cho an toàn thông tin liên lạc mới thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm của hành vi phạm tội. Do đó, 106 hành vi phạm tội phải được xác định tại Điều 231 Bộ luật hình sự 1999 (tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia) chứ không phải Điều 138 Bộ luật hình sự 1999 (tội trộm cắp tài sản). Trong nhiều trường hợp, nếu một tội phạm xâm phạm đến nhiều khách thể mà xâm phạm đến khách thể nào cũng thể hiện được bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, chúng ta cần xem xét dấu hiệu thứ hai để xác định khách thể loại. Đó là: khách thể đó phải luôn bị tội phạm cụ thể đó xâm hại trong mọi trường hợp, hoặc người phạm tội muốn xâm hại khách thể nào (lỗi)…. Chẳng hạn, hành vi giật túi xách của người đi đường làm cho chủ sở hữu ngã dẫn đến thương tích. Ở đây có hai khách thể bị xâm hại là quyền sở hữu và sức khoẻ. Tuy nhiên, quyền sở hữu đúng là khách thể trực tiếp của hành vi “cướp giật tài sản”, sức khoẻ không là khách thể trực tiếp của hành vi này. Một tội phạm có thể có một khách thể trực tiếp hoặc nhiều khách thể trực tiếp. Tội phạm có nhiều khách thể trực tiếp khi hành vi phạm tội xâm hại đến nhiều quan hệ xã hội mà việc xem xét sự gây thiệt hại đối với bất cứ một quan hệ xã hội nào cũng không thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó và nhiều khách thể đó luôn bị xâm hại ở mọi trường hợp phạm tội. Ví dụ: hành vi cướp tài sản vừa xâm hại đến quan hệ nhân thân vừa xâm hại đến quan hệ sở hữu. Bản chất nguy hiểm của hành vi cướp tài sản chỉ được thể hiện đầy đủ qua cả việc xâm hại quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu. Chính vì thế, cả hai khách thể đều là khách thể trực tiếp của tội phạm. Khách thể trực tiếp là cơ sở thể hiện rõ nhất bản chất của tội phạm cụ thể. Nó giúp xác định đúng tội danh và đánh giá đúng đắn tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cụ thể.
Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)