Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900 6162

1. Cơ sở pháp lý: 

- Bộ luật dân sự năm 2015

- Luật thương mại năm 2005

2. Tư duy pháp lý là gì?

Tư duy là một hoạt động nhận thức của con người, tư duy pháp lý là một loại hình của tư duy được hiểu là cách thức suy nghĩ của Luật sư (hay bất kì những người nào làm việc trong ngành Luật) để tìm ra giải pháp cho một vụ việc với quy định pháp luật.

3. So sánh tư duy pháp lý của sinh viên và luật sư hành nghề

3.1. Cách tư duy pháp lý khi là sinh viên (A)

Thể hiện qua môn Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, ở những chương cuối, các bạn đã lần lượt học các đề tài: quy phạm pháp luật - quan hệ pháp luật - thực hiện pháp luật: vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý — pháp chế - tăng cường pháp chế. Sự sắp xếp các đề tài cũng như từ ngữ dùng trong đó cho thấy người thiết kế chương trình khi soạn đã hình dung bạn như một người đứng ở bên ngoài, bàng quan, không can dự vào sự vận hành của luật pháp trong thực tế; không vận dụng pháp luật vào thực tế cho một sự việc có thể hay đã xảy ra. Bạn đã nhìn và nghĩ về luật pháp theo cách đó. Đó là cách tiếp cận A.

Khi tiếp cận luật pháp như thế, tình cảnh hay vị trí của bạn giống như một người đứng trước một tòa nhà có người sinh sống bên trong. Tòa nhà có nhiều chi tiết: (i) những người ở trong được gọi là chủ thể của pháp luật; (ii) khi họ giao dịch với nhau thì được gọi là quan hệ pháp luật; (iii) những qui định điều chỉnh sinh hoạt của họ trong tòa nhà được gọi là quy phạm pháp luật; (iv) việc thực hiện luật pháp của họ được nhìn theo khía cạnh phạm luật hay không; tức là pháp chế và (v) luật pháp phải được bảo đảm tuân thủ theo những nguyên tắc thông nhất; ấy là tăng cường pháp chế. Đứng trưởc tòa nhà như vậy dường như việc (v) được giao cho bạn.

Tiếp đó, khi học từng ngành luật, các bạn học các nội dung theo thứ tự; lấy ngành luật dân sự làm thí dụ: đối tượng điều chỉnh - phương pháp điều chỉnh - quan hệ pháp luật: chủ thể của quan hệ, khách thể của quan hệ... Qua những đề tài này, bạn được chỉ cách thức soạn thảo luật lệ; bạn được hướng dẫn để nhìn những người mà bạn sẽ ra luật cho họ vốn là “chủ thể” hay “đối tượng” và có một “địa vị pháp lý”. Bạn không can dự vào sự vận hành của luật pháp và đứng bên ngoài “tòa nhà”; nên những người thiết kế chương trình muốn trang bị cho bạn thật nhiều kiến thức, họ bèn trừu tượng hóa các phần khác nhau của tòa nhà bằng cách dùng đến triết học. Hành vi của một cá nhân được phân tích tì mỉ theo các cặp phạm trù trong triết học: chủ quan — khách quan, chủ thể — khách thể; những văn bản khác nhau, với thứ bậc khác nhau (luật, nghị định, thông tư) được trừu tượng hóa thành “quy phạm pháp luật”. Tất cả đều hợp lý và cần thiết cho chỗ đứng và vai trò mà người thiết kế chương trình muốn bạn nắm. Vai trò của bạn là không can dự vào sự vận hành của luật pháp, nhưng là soạn thảo luật lệ cho người khác áp dụng và kiểm tra người ta thi hành theo cách “tăng cường pháp chế”.

Chắc bạn còn nhớ, ở trường luật, trong quá trình học và khi đi thi, bạn được yêu cầu trả lời câu hỏi “vì sao luật lại ban hành như thế này, mà không là như thế kia” hoặc “mục đích của việc ban hành chính sách, quy định này để làm gì?”. Những câu hỏi... đau đầu, hại não, nhưng không giúp bạn kiếm tiền từ khách hàng của mình được.

Cách tiếp cận A sắp xếp luật pháp cho bạn học theo hai tiêu chí: (i) coi bạn là người không can dự vào sự vận hành của luật pháp và (ii) luật pháp được trừu tượng hóa ở mức cao. Vậy khi học luật, bạn được sửa soạn để trở thành một cán bộ pháp chế; nghĩa là viết luật cho người khác áp dụng.

Bây giờ làm luật sư bạn sẽ phải tiếp thân chủ. Họ đem đến cho bạn một tình huống, với những con người, thời gian và địa điểm nhất định. Trước mặt bạn không phải là các chủ thể với các quan hệ và qui phạm pháp luật mà là một thực tế rằng: “Tôi buôn bán với thằng Mít, nó lừa tôi thế này này; nhờ luật sư giúp tôi vạch mặt nó, tốn kém bao nhiêu tôi cũng chịu!”. Khi dùng cách tiếp cận A chiếu rọi vào thực tế trên, bạn phải kết nối “thằng Mít” với “chủ thể”; tức là phải thực hiện một quá trình “liên hệ với thực tế”. Quá trình này đòi hỏi thời gian và bạn có thể lẫn Mít với một chủ thể khác trong sự việc. Khi làm luật sư, bạn không chỉ trả lời những câu hỏi thường được hỏi ở trường (để giải thích cho khách, khi cần), mà bạn còn phải trả lời câu hỏi “quy định này phải được dùng như thế nào trong vụ này”. Khi đi học, bạn được hỏi “luật này áp dụng cho trường hợp nào”; còn khi làm luật sư, bạn phải tự hỏi mình “trường hợp này thì áp dụng quy định nào đây?”.

3.2. Cách tư duy pháp lý khi là luật sư (B)

Sử dụng ví dụ giản đơn, dễ hiểu sau đây:

Trong một hồ bơi, có bốn người gồm hai cô hai cậu, và họ đang chơi bóng nước. Với cách tiếp cận A, những chi tiết này được gói ghém trong “quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chơi bóng nước”. Ở đó bạn “không can dự” và lại “suy nghĩ trừu tượng” nên bạn giống như một người đứng trên bờ hồ. Bạn thấy cả cái hồ là quy phạm pháp luật, những người đang chơi là các chủ thể và khi họ ném bóng cho nhau thì quan hệ pháp luật phát sinh. Rất đúng chừng nào bạn còn đứng trên bờ hồ.

Tuy nhiên, là luật sư, bạn sẽ được một trong bôn người đã chơi bóng đến kể lể rằng: “Ông giúp tôi thưa cái thằng mặc quần đỏ mà hôm nọ ông thấy, nó ăn gian, rồi nó giật le với con bồ, đá cái chân vịt vào tôi, trầy da toác thịt đây nè!”. Thế là bạn đã bị kéo tụt xuống hồ bơi,và phải về phe với một người! Ở dưới hồ, mọi thứ đối với bạn không còn giống như  cách tiếp cận A nữa. Chẳng hạn, hồ bơi là “luật lệ chơi bóng nước” chứ không phải là quy phạm pháp luật; thân chủ bạn trở thành nạn nhân và anh chàng quần đỏ thành thủ phạm; rồi cô bồ của anh ta là nhân chứng, ở đây có tới hai nhân chứng, và họ có thể nói khác nhạu; họ không còn là các chủ thể vô cảm nữa; việc thân chủ bạn bị thương không còn là kết quả của một quan hệ pháp luật mà là đòi bồi thường. Khi nghĩ như thế thì bạn đã tiếp cận luật pháp theo cách của luật sư! Ở các nước khác, sinh viên được dạy luật theo cách tiếp cận B; do vậy khi hành nghề, họ làm việc dễ dàng hơn so với bạn.

Cách tiếp cận B có làm cho cái hồ và các người liên quan bị biến thể đi không? Thưa không. Vẫn cái hồ ấy, những con người ấy, tất cả còn nguyên xi. Sự thay đổi chỉ là cách nhìn, cách gọi tên, cái vỏ ngoài. Cách tiếp cận B không làm biến đổi nội dung luật pháp. Vẫn quy phạm pháp luật ấy, phần giả định, quy định, và chế tài ấy. Thế nhưng nó giúp bạn áp dụng thực tế vào luật lệ nhanh hơn vì không phải đi qua quá trình “liênn hệ vói thực tế’.

Tất nhiên với cách tiếp cận A, bạn cũng vẫn phân tích được các vụ việc, nhưng quá trình “liên hệ thực tế” làm mất nhiều thời gian hơn và lại không chính xác bằng B; vì cách sau không nhìn chung chung theo “chủ thể” mà phân biệt “nguyên đơn, bị đơn”. Tôi sẽ làm rõ điểm này hơn qua một thí dụ do một bạn trẻ vừa học xong năm cuối ở trường luật kể cho tôi khi chúng tôi bàn chuyện SNKLS qua câu chuyện mua xôi quên đòi tiền trả lại hay thối lại.

“Sáng, đi học, tớ mua xôi ăn, ấy là tớ đã “giao dịch” rồi; tớ tự nhiên thành “một bên” trong cái “giao dịch mua-bán” xôi của tớ, “bên kia” là bà bán xôi. Rồi thì tớ trễ học, tớ quên lấy tiền thối, bà bán xôi vì tham, chẳng nhắc. Tớ phóng vù đến trường, khi sực nhớ ra, lòng đau như cắt, cả ngày ngồi không yên, tức anh ách. Có lúc nóng trời quá, tớ còn định soạn thảo một cái đơn, rồi đem ra Tòa Dân sự Quận 1 (nơi bà bán xôi thường trú) để kiện đòi hoàn trả số tiền còn thừa và bồi thường cho việc tinh thần tớ bị khủng hoảng không thể học hành gì ngày hôm đó. Vậy là, tranh chấp xảy ra.

Tớ nghĩ lung lắm, bây giờ, tớ đặt câu hỏi là “Bà bán xôi có vi phạm luật dân sự không?” và “liệu tớ có được pháp luật bảo vệ trong trường hợp này hay không?”

Cậu thấy không, do tớ được đào tạo từ trường luật, nên tớ thật là “vẹt”.

Tớ nghĩ, chắc cái Hậu bạn tớ, khi nó bị thiếu tiền xôi như tớ, nó chỉ hỏi: “Làm sao lấy lại được tiền đây?”

Đó là sự khác biệt!”

Dầu sao hai câu hỏi trên cũng là các câu hỏi pháp lý, không ai bảo nó sai; nhưng vận dụng luật pháp để giải quyết tranh chấp - vụ trên - thì các luật sư đã hành nghề không “nghĩ lung” kiểu ấy !

Họ sẽ làm thế này. Trước hết họ sẽ hỏi kỹ cô bạn tôi các chi tiết của vụ việc để phân tích xem việc cô ấy không được thối lại tiền là (i) do cô ấy quên; hay (ii) bà bán xôi đã lấy tiền ra trả nhưng cô ta đã phóng xe đi; (iii) hoặc bà ấy khi thấy cô ấy đang quay lưng đi, tiền đã sẵn trên tay, nhưng thấy thế bèn giả vờ bận bán, rồi im luôn. Sau khi đã chắc chắn là cô bạn tôi thật sự quên, luật sư bèn đặt hai câu hỏi pháp lý:

+ Có thật bà ấy đã lấy tiền ra mà cô kia đã phóng xe đi? Nếu thật, thì lỗi là của cồ bạn tôi; do vậy đã không được trả lại tiền. Bà bán xôi không làm thiệt hại cô ta.

+ Bà ấy có cố tình không trả lại tiền cho cô kia không? Nếu có thì mới làm thiệt hại, và vì gây thiệt hại nên mới vi phạm luật, và luật buộc phải trả lại tiền.

Bạn thấy chứ nhỉ? Cách luật sư suy nghĩ khác sinh viên luật: “Gây thiệt hại trước - và vì thế phạm luật.” Còn sinh viên nghĩ: “Vi phạm luật - vì đã gây thiệt hại.” Ngoài ra, cách tiếp cận mà bạn đã quen sẽ làm cho bạn khi mới vào nghề thường chỉ nói đến luật một cách chung chung, khơi khơi, mà không biết kết nối nó vào một đối tượng nào đó (mà thường là người, vốn có nhiều tư cách khác nhau).

Nói đi thì phải nói lại, dù không phù hợp cho công việc của luật sư nhưng cách tiếp cận A vẫn cần thiết cho những công việc khác như viết sách, trình bày, giảng dạy hay soạn thoat luật pháp. Vì có tính triết học nên nó rất chi ly.  đây bạn sẽ thấy tôi cũng dùng các từ ngữ triết học khi trình bày vấn đề và ngay cả trong cách SNKLS (suy nghĩ kiểu luật sư Luật Minh Khuê đã có bài chia sẻ, bạn đọc quan tâm có thể tìm đọc) bạn cũng sẽ dùng đến nó.

Vậy với cách tiếp cận B bạn không phải lo sợ. Nó chỉ là một sự thay đổi tên, sắp xếp luật pháp lại theo một tiêu chí lấy con người làm gốc. Tiếp xúc với con người, và nhìn luật pháp theo cùng một gốc, bạn sẽ áp thực tế nhanh hơn và chính xác hơn vào luật pháp; giống như ngày xưa bạn dùng dao để cắt giấy, nay bạn dùng kéo.

Trên đây là chia sẻ của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập