1. Câu hỏi (trang 24 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 2
Câu hỏi (trang 24 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 2):
Câu 1.
- Sông Bạch Đằng: “Phú sông Bạch Đằng” (Trương Hán Siêu)
- Núi Côn Sơn: bài thơ “Côn Sơn ca” (Nguyễn Trãi)
- Đèo Ngang: bài thơ “Qua đèo Ngang” (Bà Huyện Thanh Quan)
Câu 2.
Bài thơ “Côn Sơn ca” của Nguyễn Trãi là một tác phẩm nổi bật trong văn học Việt Nam, thể hiện sự giao hòa giữa con người và thiên nhiên một cách tinh tế và sâu sắc. Trong bài thơ, hình ảnh “ta” được khắc họa như một phần không thể tách rời của cảnh sắc Côn Sơn, nơi có núi non hùng vĩ, dòng suối trong vắt, và những cánh rừng xanh biếc. Khung cảnh thiên nhiên hữu tình, với những đồi núi trập trùng, mặt hồ lăn tăn gợn sóng, tạo nên một bức tranh sống động và thơ mộng, nơi “ta” có thể thả hồn mình vào những phút giây bình yên, xa rời mọi âu lo của cuộc sống. Hình ảnh con người trong thơ không đơn thuần là một cá thể riêng lẻ mà là một phần của vũ trụ, hòa quyện với đất trời, cảm nhận được nhịp sống của thiên nhiên qua từng cơn gió thoảng, từng âm thanh của chim muông. Điều này không chỉ thể hiện tâm hồn nhạy cảm và tinh tế của Nguyễn Trãi, mà còn khẳng định triết lý sống hòa hợp với thiên nhiên, tìm kiếm sự an lạc trong tâm hồn giữa những biến động của đời sống. Chính sự giao thoa giữa con người và cảnh vật đã tạo nên một vẻ đẹp lắng đọng, mang đậm dấu ấn nhân văn và triết lý của tác giả, khiến người đọc cảm nhận được giá trị của sự thanh bình, sự kết nối với thiên nhiên và vẻ đẹp của tâm hồn con người trong thế giới bao la ấy. Qua đó, “Côn Sơn ca” không chỉ đơn thuần là một bài thơ tả cảnh, mà còn là một tác phẩm nghệ thuật giàu tính triết lý, khẳng định vị thế của con người giữa lòng thiên nhiên kỳ diệu.
2. Gợi ý trả lời câu hỏi trong bài đọc Dục Thúy sơn Ngữ văn lớp 10
Câu 1. Lưu ý các yếu tố cơ bản của thế loại.
- Bài thơ viết theo thể ngũ ngôn luật thi, gieo vần ở các câu 1,2,4,6 và 8 (bản phiên âm gieo vần “an”). Giọng thơ nhịp nhàng, nghe như có tiếng nhạc.
Câu 2. Chú ý các chi tiết miêu tả, các hình ảnh so sánh, ẩn dụ.
- 6 câu đầu miêu tả cảnh núi Dục Thúy như một tiên cảnh.
- Hình ảnh ẩn dụ “liên hoa phù thủy thượng”, hoa sen tượng trưng cho vẻ đẹp trong khiết của nhà Phật, mà trên núi Dục Thúy lại có chùa tháp, mượn hình ảnh hoa sen nổi trên mặt nước để gợi liên tưởng đến vẻ đẹp rực rỡ, cao quý của địa danh.
- Hình ảnh so sánh “bóng tháp” với “trâm ngọc”, “gương sông” với “ánh tóc huyền” gợi vẻ đẹp thướt tha như của nàng tiên nữ.
* Sau khi đọc
Nội dung chính: Núi Dục Thúy hiện lên trong văn bản như một bức tranh thiên nhiên sống động, hòa quyện giữa cảnh sắc huyền ảo và nỗi lòng cảm hoài sâu sắc của Nguyễn Trãi. Với những dòng chữ tinh tế, tác giả khắc họa vẻ đẹp lung linh của núi non, sông nước, khi ánh nắng chiếu rọi qua từng tán cây, tạo nên những gam màu rực rỡ mà chỉ thiên nhiên mới có thể vẽ nên. Hình ảnh dòng sông uốn lượn, những ngọn núi trùng điệp tựa như những người bạn tri kỷ, gợi nhắc về một thời vang bóng, một thời của Trương Hán Siêu – người đã để lại những bài ký bất hủ gắn liền với núi Dục Thúy. Nguyễn Trãi không chỉ bộc lộ niềm say mê thiên nhiên mà còn lấp lánh nỗi nhớ, nỗi trăn trở về quá khứ, về một nhân cách lớn và tài năng văn chương đã từng sống, từng trải nghiệm nơi đây. Mỗi cảnh vật đều mang trong mình những ký ức, những tâm tư, nhắc nhở người đọc về sự giao thoa giữa hiện tại và quá khứ, giữa con người và thiên nhiên. Qua đó, bức tranh không chỉ đơn thuần là một cảnh đẹp mà còn là một bài thơ sống động về lòng yêu quê hương, về những triết lý nhân sinh sâu sắc mà Nguyễn Trãi muốn gửi gắm, khiến lòng người phải suy ngẫm, chiêm nghiệm về mối liên hệ giữa con người và cảnh vật, giữa cái đẹp vĩnh cửu và những hoài niệm không thể nguôi.
3. Gợi ý trả lời câu hỏi sau khi đọc bài Dục Thúy sơn Ngữ văn lớp 10
Câu 1 (trang 25 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 2):
- Bản dịch thơ đổi vị trí của hai câu thơ thứ 3 và thứ 4 so với bản dịch nghĩa.
- Ở câu thơ thứ 5, bản dịch thơ không nhắc đến màu xanh ngọc (thanh ngọc) của bóng tháp.
- Ở câu thơ thứ 6, bản dịch thơ không nhắc đến màu tóc xanh biếc (thúy hoàn), mà đổi sang màu đen huyền.
Câu 2 (trang 25 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 2):
- Bài thơ chia thành hai phần:
+ 6 câu đầu miêu tả khung cảnh núi Dục Thúy.
+ 2 câu sau thể hiện nỗi niềm của Nguyễn Trãi khi nghĩ về người xưa.
Câu 3 (trang 25 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 2):
- Vẻ đẹp của núi Dục Thúy được hình dung như một đóa hoa sen nổi trên mặt nước biển, giống cảnh tiên rơi xuống trần gian.
- Tác giả sử dụng cụm từ “tiên san” để định danh trước hết về ngọn núi. Các hình ảnh “liên hoa”, “tiên cảnh” càng làm rõ hình dung ấy.
- Núi Dục Thúy hiện lên với màu xanh, xanh của bóng tháp soi xuống mặt nước và xanh của nước phản chiếu ngọn núi.
Câu 4 (trang 25 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 2):
- Những chi tiết miêu tả cận cảnh núi Dục Thúy: miêu tả dáng núi như đóa hoa sen nổi trên mặt nước, dáng tháp như cây trâm soi dưới nước, dòng nước như mái tóc dài, màu của tháp khi soi xuống nước là màu “thanh ngọc”, màu của nước phản chiếu núi là màu “thúy hoàn”.
- Tác giả liên tưởng núi Dục Thúy như một “tiên cảnh”, một đóa hoa sen. Đó vừa là liên tưởng khá xác thực – núi trên dòng sông với đoá sen trên mặt nước, màu sắc của tháp và núi phản chiếu dưới nước là màu xanh; lại vừa mang nghĩa biểu tượng: hoa sen là biểu tượng của vẻ đẹp tinh khiết, thanh cao, rất phù hợp với cảnh tiên, núi tiên.
Tác giả còn liên tưởng cảnh núi như một dáng trâm cài đi liền với mái tóc sông biếc như gợi dáng hình của người thiếu nữ.
Những liên tưởng cho thấy sự say mê của con người khi ngắm nhìn thiên nhiên, tâm hồn lãng mạn, tinh tế, tươi trẻ của Nguyễn Trãi.
Câu 5 (trang 25 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 2):
- Trong “Dục Thúy sơn”, Nguyễn Trãi kết bài bằng nỗi “hữu hoài”, tức là hoài niệm quá khứ, hoài cổ quá vãng, nhìn cảnh trước mặt mà nhớ cảnh nhớ người xưa. Điều này khác biệt so với chí khí hào hùng, khát vọng lớn lao hay sự cô đơn trong các bài thơ cùng đề tài.
- Nỗi niềm của Nguyễn Trãi gắn với nỗi niềm của sự vận động, hưng vong của tạo hóa. Nguyễn Trãi đang sống trong điểm đầu của một triều đại, lại nhớ đến Trương Hán Siêu – một nhân vật của thời mạt triều Trần. Ông lại nghĩ đến cảnh còn người mất, ngậm ngùi nghĩ đến số phận hữu hạn của con người giữa thiên nhiên vĩnh hằng.
* Kết nối đọc – viết
Bài tập (trang 58 sgk Ngữ văn lớp 10 Tập 2): Viết đoạn văn khoảng 150 chữ phân tích một nét đẹp của tâm hồn Nguyễn Trãi thể hiện trong bài thơ "Dục Thúy sơn:
Trong bài thơ “Dục Thúy sơn,” Nguyễn Trãi đã khéo léo thể hiện niềm say mê sâu sắc của mình trước vẻ đẹp mê hồn của thiên nhiên đất nước. Ngọn núi Dục Thúy được nhà thơ miêu tả như một bức tranh tiên cảnh, nơi mà mỗi đường nét, màu sắc đều trở nên sống động và ấn tượng. Qua những hình ảnh so sánh và ẩn dụ tinh tế, ông không chỉ tả thực mà còn khơi gợi những liên tưởng phong phú, tạo ra một không khí huyền ảo như đang lạc vào cõi thần tiên. Núi Dục Thúy hiện lên thật hùng vĩ, nhưng cũng đầy thơ mộng, có những nét thanh tao, thoát tục như đóa sen trong chốn Phật giáo, đồng thời lại mang vẻ đẹp thướt tha, đầy sức sống tựa như hình ảnh của một nàng thiếu nữ e ấp. Những câu thơ của Nguyễn Trãi không chỉ đơn thuần là miêu tả cảnh sắc, mà còn là biểu hiện của một tâm hồn nghệ sĩ nhạy cảm, đắm chìm trong vẻ đẹp tuyệt diệu của quê hương. Đọc những vần thơ ấy, người đọc không khỏi cảm nhận được sự hòa quyện giữa tâm hồn con người với thiên nhiên, giữa hiện thực và huyền ảo, đưa ta vào một không gian vừa gần gũi, vừa xa lạ, khiến cho tâm trạng say mê trước cảnh sắc tuyệt diệu của đất nước thêm phần mãnh liệt và tràn đầy cảm xúc. Sự kết hợp giữa cảm xúc cá nhân và vẻ đẹp thiên nhiên đã tạo nên một tác phẩm vừa sâu sắc, vừa tinh tế, làm cho hình ảnh núi Dục Thúy không chỉ tồn tại trong không gian vật lý mà còn lấp lánh trong tâm hồn những người yêu thơ.