1. Tri thức Ngữ Văn
Văn bản nghị luận
Văn bản nghị luận là loại văn bản chủ yếu dùng để thuyết phục người đọc (khán giả) về một vấn đề.
Những điều cơ bản của văn bản nghị luận
Để một bài văn thực sự có sức thuyết phục, tác giả (người nói) phải biết dùng lí lẽ và dẫn chứng. Luận cứ là những lời giải thích hợp lý mà tác giả (người nói) đưa ra để khẳng định ý kiến của mình. Bằng chứng là những ví dụ từ cuộc sống thực hoặc các nguồn khác để hỗ trợ cho một lập luận.
Trạng ngữ
Trạng ngữ là bộ phận phụ trợ của câu, có thể đặt ở đầu, giữa hoặc cuối câu (thường đặt ở đầu câu). Trạng từ được dùng để chỉ thông tin về thời gian, địa điểm, mục đích, cách thức, v.v. của sự vật được nói đến trong câu.
Ảnh hưởng của lựa chọn từ và cấu trúc câu
Để diễn đạt một ý tưởng, các từ và cấu trúc khác nhau có thể được sử dụng. Khi tạo một văn bản, người viết thường phải chọn đúng từ ngữ, đúng cấu trúc câu để diễn đạt chính xác và hiệu quả nhất điều mình muốn nói.
2. Soạn bài Xem người ta kìa!
Tóm tắt nội dung Xem người ta kìa!
- Mẫu 1
Nhìn mọi người! thảo luận về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng. Con người luôn mong muốn những người thân yêu xung quanh mình thành đạt, tài giỏi,... như những nhân vật xuất chúng trong cuộc sống. Tuy nhiên, đi làm để được như người khác là đánh mất chính mình.
- Mẫu 2
Trong bài văn Xe người ta kìa!, tác giả Lạc Thành đã phân tích và lập luận đúng vấn đề so sánh con mình với con người khác. Nhìn mọi người! Đây là câu nói phổ biến của nhiều bậc cha mẹ nhưng đôi khi lại ảnh hưởng đến trẻ và vô tình khiến trẻ mất đi cá tính riêng.
- Mẫu 3
Tác giả vào đề bằng một cách riêng, lôi cuốn người đọc: vào đề bằng cách kể chuyện của mẹ và chính mình. Với luận điểm thứ nhất, tác giả giải thích đó là mong muốn của những người mẹ dành cho con mình với mong muốn con mình sẽ thành đạt như bao người khác, “những người khác” ở đây là những người hoàn hảo, mười phân vẹn mười. . Ở lập luận thứ hai, tác giả cho rằng mỗi người là khác nhau và có những điểm mạnh riêng, không ai giống ai và điều đó tạo nên một xã hội đa dạng và nhiều màu sắc. Ở phần kết bài, tác giả đã tạo ra một đoạn đối thoại đặc biệt kết thúc bằng một câu hỏi để người đọc suy ngẫm về quan điểm mà tác giả đang đưa ra.
Trước khi đọc
Câu hỏi 1. Bạn đã bao giờ cố gắng để trở nên giống như một người bạn mà bạn ngưỡng mộ chưa?
Mọi người đều cố gắng giống như một người bạn mà họ ngưỡng mộ.
Câu hỏi 2. Trong cuộc sống, có phải ai cũng có quyền thể hiện mình không?
Để làm gì Trong cuộc sống, ai cũng có quyền thể hiện mình. Vì cá nhân làm nên bản sắc riêng của mỗi người, đó là điều khiến mọi người tự hào về mình.
Trong khi đang đọc
Câu 1. Chú ý cách vào bài bằng văn tự sự. Kể chuyện phải chăng cũng là một cách nêu vấn đề cần nghị luận?
Cách vào bài: Tham khảo lời mẹ.
Kể chuyện cũng là một cách nêu vấn đề cần nghị luận.
Câu 2. Tại sao bạn muốn con mình giống như những người khác?
Lý do tôi muốn bạn giống như những người khác: Mẹ muốn bạn trở thành một người hoàn hảo, mười phần trăm thời gian – thông minh, giỏi giang; đáng tin cậy và được tôn trọng; thành đạt.
Câu 3. Bằng chứng nào chứng tỏ thế giới này có nhiều màu sắc?
- Mọi người trong lớp trông giống nhau: Ngoại hình khác nhau, giọng nói khác nhau, thói quen và sở thích khác nhau.
- Trích dẫn: Người thích vẽ, người thích ca hát, nhảy múa...
Tính cách sôi nổi, vui tươi hay dè dặt, khá trầm tư...
Câu 4. Kết thúc văn bản bằng câu hỏi có ý nghĩa gì?
Gây ấn tượng mạnh cho người đọc, khiến họ phải suy nghĩ về vấn đề.
Sau khi đọc
Trả lời câu hỏi
Câu hỏi 1. Bằng cách thốt lên “Hãy nhìn người này! Người mẹ muốn con mình làm gì?
Thét lên “Con xem này!”, người mẹ muốn con: “làm sao cho bằng được, không thua kém chị, em, không làm xấu hổ gia đình, dòng tộc, không để ai kêu ca, phàn nàn điều gì. ”
Câu hỏi 2. Cho biết trong văn bản:
a. Đoạn văn nêu vấn đề bằng cách kể một câu chuyện.
"Bây giờ mẹ tôi đã mất... Có người mẹ nào trên thế giới này không muốn điều đó không?"
b. Đoạn văn là cách giải thích của tác giả:
“Mẹ tôi không phải không có lí khi đòi hỏi tôi... Là người hoàn hảo, mười phân vẹn mười”.
c. Đoạn văn dùng bằng chứng để làm sáng tỏ vấn đề:
“Từ khi biết nhìn nhận và suy nghĩ... một phần rất đáng quý trong mỗi con người”
Câu hỏi 3. Đoạn văn nhấn mạnh ý nghĩa của sự giống nhau hay khác nhau giữa người với người?
Nội dung văn bản nhấn mạnh ý nghĩa của sự khác biệt giữa mọi người
Câu hỏi 4. Đọc lại đoạn văn có câu: “Mẹ tôi không phải là không có lý khi đòi hỏi tôi lấy người khác làm chuẩn mực để noi theo”. Hãy cho biết người mẹ có lý ở chỗ nào.
Lý do của mẹ:
- Trong cuộc sống, ai cũng như nhau.
- Noi gương những điểm tốt của người khác cũng là điều cần thiết.
- Người mẹ muốn con mình trở thành một người hoàn hảo, mười phân vẹn mười - muốn con mình trở nên tốt hơn.
Câu hỏi 5. Chính nơi “chẳng giống ai” đôi khi lại là một phần vô cùng quý giá trong mỗi con người. Tác giả đưa ra những ví dụ nào để làm sáng tỏ câu nói trên?Bạn đã học được gì từ những ví dụ này về việc sử dụng bằng chứng trong bài luận của mình?
- Mọi người trong lớp giống nhau: Khác ngoại hình, khác giọng nói, khác thói quen, sở thích. -
- Dẫn chứng:
- Người thích vẽ, người thích ca hát, nhảy múa...
- Tính cách sôi nổi, vui tươi hay dè dặt, trầm tư đều có mọi thứ để làm hài lòng...
- Qua các ví dụ trên có thể thấy việc sử dụng dẫn chứng trong văn nghị luận phải cụ thể, chính xác.
Câu hỏi 6. Biết hòa đồng, gần gũi mọi người, nhưng cũng phải biết giữ lấy cái riêng và tôn trọng sự khác biệt - em có đồng ý với ý kiến này không? Vì sao?
- Đồng ý.
- Nguyên nhân: Hòa đồng, gần gũi với mọi người thể hiện lối sống thân thiện, hiền hòa. Điều này sẽ giúp mỗi người thiết lập các mối quan hệ tốt đẹp. Biết giữ cái riêng và tôn trọng sự khác biệt sẽ khiến mỗi người trở nên độc nhất, không giống ai. Nó sẽ làm cho mọi người xứng đáng với tên.
Câu hỏi 7. Qua nội dung đọc văn bản Hãy nhìn người!, hãy xác định các yếu tố quan trọng của một bài văn nghị luận.
Các yếu tố đó là: luận cứ, luận cứ và chứng minh.
Viết kết nối với đọc
Viết đoạn văn (khoảng 5-7 câu) trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu hỏi: Mỗi người cần có cái riêng của mình.
Gợi ý:
- Mẫu 1: Mỗi người phải có của riêng. Trong cuộc sống, con người có rất nhiều điểm chung. Vì vậy, bản sắc cá nhân chính là điều làm nên giá trị của mỗi người. Tính đặc thù này thể hiện ở nhiều yếu tố: ngoại hình, tính cách, sở thích, đam mê… Tính đặc thù này cũng chính là lợi thế của mỗi người. Từ đó, chúng ta có thể phát triển để giúp chúng ta thành công trong cuộc sống. Ngược lại, nếu con người không nhận thức được cái của mình thì sẽ khó lựa chọn và định hướng tương lai. Giữa trái đất bao la, mỗi người là một hạt cát nhỏ nhưng tách biệt. Sáng tạo của riêng bạn!
- Mẫu 2: Thế giới này thật muôn màu muôn vẻ. Tất cả mọi thứ, hoặc thậm chí con người, là khác nhau. Mọi người đều là duy nhất - điều làm cho mọi người đều có giá trị. Chẳng hạn trong một lớp, mỗi học sinh khác nhau về ngoại hình, giọng nói, tính cách, sở thích… Có bạn thích học hát, có bạn thích thể thao, có bạn thích viết văn, làm thơ. Không ai giống ai, đó là điều làm nên giá trị của mỗi người. Nếu bạn xác định được những điểm cụ thể để phát triển nó theo hướng tích cực, bạn sẽ gặt hái được những điều tốt đẹp. Ngược lại, mọi người phải hiểu giới hạn của sự thay đổi. Mọi người đều có cái hay của họ. Hãy tự tin và hạnh phúc về điều đó.
Trên đây Luật Minh Khuê vừa giới thiệu tới bạn đọc nội dung Soạn bài Xem người ta kìa sách Kết nối tri thức 6 ngắn gọn, đầy đủ nhất. Mời các bạn tham khảo thêm: Đề thi học kì 2 Ngữ Văn lớp 6 có đáp án năm học 2022 - 2023