1. Phân tích vấn đề về chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân hoặc pháp nhân.

Chủ thể của tội phạm là cá nhân: phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định (ngoài ra, trong một số trường hợp cụ thể chủ thể của tội phạm còn có một số dấu hiệu bổ sung đặc biệt do quy phạm pháp luật hình sự tương ứng quy định)

- Có năng lực trách nhiệm hình sự – có trạng thái bình thường để hoàn toàn có khả năng nhận thức được tính chất thực tế, tính chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện và điều khiển được hành vi ấy.

Với trường hợp người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, trong trường này, người sử dụng rượu, bia vẫn được coi là có năng lực trách nhiệm hình sự, vì bản chất của quy định này được hiểu là người sử dụng rượu, bia có quyền lựa chọn việc sử dụng hay không sử dụng rượu, bia, các chất kích thích mạnh khác và người sử dụng những chất kích tích này có nghĩa vụ phải biết rằng việc sử dụng các chất kích thích này có thể làm cho họ rơi vào tình trạng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi dẫn đến phạm tội. Do đó xét cho cùng thì việc họ bị mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi khi sử dụng chất kích thích dẫn đến phạm tội là do ý chí chủ quan của người đó, nên trường hợp này vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự bình thường. Ngoài ra việc sử dụng chất kích thích để phạm tội trong một số trường hợp sẽ được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Với trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, đối với trường hợp này, người đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình thì được coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự.

- Đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự – đủ tuổi do pháp luật hình sự quy định tại thời điểm thực hiện tội phạm, Điều 12 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định về độ tuổi chịu TNHS:

+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng qu định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142,143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289,290,299, 303 và 304 của Bộ Luật Hình sự.

=> Như vậy, có thể hiểu đơn giản là độ tuổi để bị truy cứu trách nhiệm hình sự là từ 14 tuổi, trong đó, từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại các điều trên.

2. Khái niệm nhân thân người phạm tội

Nhân thân người phạm tội là một phạm trù thuộc về con người được đề cập trong các ngành khoa học tội phạm học, khoa học luật hình sự, khoa học điều tra tội phạm, tâm lý học tư pháp… Trong hoạt động thực tiễn các cơ quan điều tra, tòa án, cơ quan thi hành án, các cơ quan khác của Nhà nước, các tổ chức xã hội cần nắm được vấn đề nhân thân người phạ tội trong quá trình tiến hành công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, giáo dục và cải tạo người phạm tội. Do đó, vấn đề nhân thân người phạm tội là một vấn đề của nhiều ngành khoa học nghiên cứu. Ở mỗi ngành khoa học có những góc độ tiếp cận khác nhau. Trước hết để tìm hiểu về nhân thân người phạm tội cần tiếp cận ở khái niệm.

Khái niệm về nhân thân người phạm tội liên quan mật thiết với khái niệm chung của xã hội học Mác - Lê Nin về nhân thân con người.Theo đó, nhân thân có thể hiểu đó là bản chất xã hội của con người được thể hiện thông qua vị trí của con người trong các quan hệ xã hội. Nhân thân là một phạm trù lịch sử. Đối với với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, quan điểm về nhân thân đối với các nhà tư sản là nhân thân tách rời với quá trình phát triển xã hội. Theo đó, nhân thân phải là cá nhân có đặc điểm riêng giữa các cá thể trong xã hội, có khả năng điều khiển được chính con người mình và điều khiển được người khác, có khả năng quyết định tiến trình phát triển của lịch sử.

Đặc điểm nhân thân của người phạm tội được tội phạm học nghiên cứu là những đặc điểm mang tính đặc trưng, phổ biến điển hình và có vai trò quan trọng trong cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội. Các đặc điểm nhân thân của người phạm tội được tội phạm học nghiên cứu ở một số khía cạnh cụ thể, như: Đặc điểm sinh học tuổi tác, giới tính, đặc điểm xã hội trình độ học vấn, nơi cư trú, nghề nghiệp, đặc điểm tâm lý phản ánh nhận thức xã hội tiêu cực của người phạm tội, đặc điểm nhân thân mang tính pháp lý hình sự.

Nhân thân người phạm tội là những đặc điểm dấu hiệu đặc trưng nhất phản ánh bản chất của người phạm tội, những đặc điểm dấu hiệu này tác động với những tình huống và hoàn cảnh khách quan khác đã tạo ra xử sự phạm tội của người đó.

Nhân thân của người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của họ.

Những đặc điểm đó có thể là tuổi, nghề nghiệp, thái độ làm việc, thái độ trong quan hệ với những người khác, trình độ văn hóa, lối sống, hoàn cảnh gia đình và đời sống kinh tế, thái độ chính trị, ý thức pháp luật, tôn giáo, tiền án, tiền sự…

3. Phân biệt chủ thể của tội phạm với nhân thân người phạm tội

Tiêu chí

Chủ thể của tội phạm

Nhân thân người phạm tội

Định nghĩa

Chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân hoặc pháp nhân.

- Chủ thể của tội phạm là cá nhân: phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định (ngoài ra, trong một số trường hợp cụ thể chủ thể của tội phạm còn có một số dấu hiệu bổ sung đặc biệt do quy phạm pháp luật hình sự tương ứng quy định)

- Chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại: Pháp nhân thương mại được coi là chủ thể của tội phạm khi có đủ các điều kiện sau: Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Chỉ liên quan đến chủ thể phạm tội là cá nhân.

Nhân thân của người phạm tội là tổng hợp tất cả các khía cạnh xã hội đặc trưng của người phạm tội tạo thành cá nhân bao gồm các đặc điểm về mặt pháp lý hình sự, xã hội - nhân khẩu học, xã hội - sinh học và đạo đức - tâm lý học của người đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, mà các đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng để giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của người đó một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật, đồng thời góp phần đấu tranh chống tình trạng phạm tội.

Đặc điểm/ Dấu hiệu

- Có năng lực trách nhiệm hình sự (với cá nhân)

- Đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (với cá nhân)

- Thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội

- Trái với quy định của BLHS

- Có lỗi trong việc thực hiện hành vi 

(Với pháp nhân thương mại thì phải thỏa mãn các điều kiện đã được nêu ra ở phần khái niệm)

- Tính chất của tội phạm được thực hiện.

- Cơ chế thực hiện tội phạm (đơn nhất phức tạp hay đa tội phạm)

- Động cơ, mục đích phạm tội

- Hình thức phạm tội (đơn lẻ hay đồng phạm)

- Người phạm tội là người có tiền án, tái phạm hay chưa có tiền án tiền sự.

- Những tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự liên quan đến nhân thân.

4. Khái niệm chủ thể đặc biệt của tội phạm

– Chủ thể của tội phạm thông thường đòi hỏi phải đáp ứng dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự.

– Với những tội phạm cụ thể cần phải có thêm những dấu hiệu đặc trưng khác không có nó thì người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không thể trở thành là chủ thể của tội phạm đó được.

– Những chủ thể đòi hỏi dấu hiệu đặc biệt như vậy gọi là chủ thể đặc biệt. Như vậy, việc quy định chủ thể đặc biệt không nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự người có đặc điểm nhất định về nhân thân mà vẫn nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi đó chỉ có thể được thực hiện bởi người có những đặc điểm nhất định.

5. Những dấu hiệu của chủ thể đặc biệt

Những dấu hiệu đặc biệt có thể thuộc một trong các dạng sau:

– Các dấu hiệu liên quan đến chức vụ, quyền hạn.

+ Ví dụ: Tội tham ô tài sản đòi hỏi dấu hiệu đặc biệt của chủ thể phải là người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp quản lý tài sản.

– Các dấu hiệu liên quan đến nghề nghiệp, công việc.

+ Ví dụ: Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ thì chủ thể đặc biệt ở đây phải là người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp khi đang làm nhiệm vụ.

– Các dấu hiệu liên quan đến nghĩa vụ

+ Ví dụ: Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự yêu cầu chủ thể phải là người đang ở tuổi mà theo quy định của pháp luật phải thực hiện nghĩa vụ quân sự.

– Các dấu hiệu liên quan đến tuổi.

+ Ví dụ: Tội giao cấu với trẻ em đòi hỏi chủ thể phải là người đã thành niên (đủ 18 tuổi).

– Các dấu hiệu liên quan đến quan hệ, họ hàng.

+ Ví dụ: Tội hành hạ ngược đãi cha mẹ, con cái, chủ thể ở đây chỉ có thể là người con, người mẹ, người cha, những chủ thể liên quan tới quan hệ gia đình.

– Các dấu hiệu liên quan đến quốc tịch.

+ Ví dụ: Tội phản bội tổ quốc, chủ thể ngoài có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định thì còn phải là công dân nước Việt Nam.

– Các dấu hiệu khác.

+ Ví dụ: Tội giết con mới đẻ đòi hỏi chủ thể phải là bà mẹ mới sinh (từ khi sinh con đến ngày thứ 7).