1. Chiến tranh lạnh là gì?

Chiến tranh Lạnh (1947-1991, tiếng Anh: Cold War) là sự căng thẳng địa chính trị và xung đột ý thức hệ đỉnh điểm giữa hai siêu cường quốc (đứng đầu và đại diện hai khối đối lập): Hoa Kỳ (chủ nghĩa tư bản) và Liên Xô (chủ nghĩa xã hội).

Chiến tranh Lạnh bắt đầu từ năm 1947 với sự ra đời của thông điệp của tổng thống Truman trước quốc hội Mỹ và kết thúc với sự tan rã của Liên Xô vào năm 1991.

Sở dĩ sử dụng thuật ngữ "lạnh" để nói đến cuộc chiến tranh những năm 47 - 91 của thế kỷ trước là bởi vì không có sự chiến đấu vũ trang trực tiếp diện rộng giữa hai siêu cường, như chiến tranh thế giới lần thứ nhất hay thứ hai, nhưng có sự phân chia phe phái chia bình diện thế giới thành hai cực bằng cách tạo lập nhóm riêng và ủng hộ những nước đồng minh đang có xung đột nhằm gia tăng vị thế chính trị. Ở phương tây, Chiến tranh lạnh còn được gọi là những cuộc chiến tranh ủy nhiệm (proxy wars).

 

2. Thông điệp của Tổng thống Truman ngày 12 tháng 3 năm 1947

Tổng thống Harry S. Truman là ai? Harry S. Truman sinh ngày 8/5/1884 tại Lamar bang Missouri, mất ngày 26/12/1972 tại Kansas bang Missouri. Ông là tổng thống thứ 33 của Hoa Kỳ nhiệm kỳ 1945-1953 và từng làm Phó Tổng thống dưới thời Tổng thống Franklin D. Roosevelt. Trong lĩnh vực đối ngoại, ông được biết đến với những sự kiện như vụ thả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, ban hành kế hoạch Marshall, thành lập khối NATO.

Sự kiện được xem là khởi đầu cho chính sách chống Liên Xô, gây nên cuộc Chiến tranh lạnh là thông điệp của Tổng thống Harry S. Truman tại Quốc hội Mỹ ngày 12/3/1947. Trong bối cảnh trước ngày 12/3/1947, ngày 21/2/1947, chính phủ Anh thông báo với chính quyền Mỹ về khả năng không thể tiếp tục viện trợ cho các lực lượng bảo thủ chống lại Mặt trận Giải phóng Dân tộc (trong đó có các lãnh đạo cộng sản) ở Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, tuy nhiên vẫn bày tỏ sự đồng tình nếu Mỹ trợ giúp hai nước này. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, các nhà lãnh đạo Liên Xô đã gây sức ép buộc nước này phải sửa đổi Hiệp ước Montreux về eo biển Hắc Hải, để cho Liên Xô được quyền phòng thủ tại eo biển này. Cùng lúc đó, Liên Xô cũng yêu cầu thiếp lập một thể chế chính quyền mới ở Thổ Nhĩ Kỳ nằm dưới sự kiểm soát của Liên Xô và cho phép quân đội Liên Xô hiện diện ở nước này. Do đó, chính quyền Truman nhận thấy cần thiết phải tiếp tục chính sách ủng hộ hai quốc gia này chống lại ảnh hưởng của Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản.

Trong thông điệp của mình, tổng thống Truman khẳng định: sự tồn tại của Liên Xô là nguy cơ lớn đối với nước Mĩ và đề nghị viện trợ khẩn cấp 400 triệu USD cho hai nước Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Hy Lạp được xem như cái nôi của nền dân chủ, là một biểu tượng mà chính quyền Truman muốn bảo vệ. Còn ở Thổ Nhĩ Kỳ, dưới áp lực của Liên Xô, Mỹ thấy cần thiết phải hành động ngay để chống lại ảnh hưởng của khối chủ nghĩa xã hội. 

Tổng thống Truman đã cảnh báo với Quốc hội Mỹ trong bài phát biểu của mình rằng nếu không có sự viện trợ kịp thời thì hai nước này sẽ rơi vào tay chủ nghĩa cộng sản, từ đó trật tự ở Trung Đông và tự do ở Châu Âu sẽ bị mất kiểm soát và không thể duy trì trật tự thế giới. Dù không đề cập trực tiếp đến Liên Xô trong bài diễn văn, với học thuyết đưa ra, Truman đã cho Quốc hội Mỹ thấy rằng việc đối đầu với Liên Xô là điều tất yếu không tránh khỏi. Cũng trong bài diễn văn, Truman chỉ ra rằng các quốc gia trên thế giới đang đối mặt với một sự lựa chọn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, giữa chế độ “độc tài” và “dân chủ”, giữa “tự do” và “áp bức”. Trong một thế giới như vậy, ông tuyên bố rằng nước Mỹ buộc phải can dự bởi chính sách của Mỹ là ủng hộ các dân tộc tự do đang nỗ lực chống lại sự chinh phục từ các nhóm vũ trang hoặc từ những áp lực bên ngoài.

Ngày 8/5, Quốc hội Mỹ đã chấp thuận Dự luật Viện trợ Hy Lạp - Thổ Nhĩ Kỳ với 287 phiếu thuận và 107 phiếu chống. Thượng viện Mỹ cũng đã thông qua dự luật vào ngày 22/5.  

Bài diễn văn ngày 12/3/1947 của Tổng thống Truman sau đó trở nên nổi tiếng và được biết đến dưới tên gọi “Học thuyết Truman”. Nhiều sử gia coi bài diễn văn của Truman là sự kiện đánh dấu sự khởi đầu thời kỳ Chiến tranh Lạnh do học thuyết này đã chính thức đánh dấu sự chuyển hướng chính sách của Mỹ từ hòa hoãn sang ngăn chặn đối với Liên Xô, quan ngại trước việc chủ nghĩa cộng sản dưới sự lãnh đạo của Liên Xô liên tục mở rộng ảnh hưởng ở Địa Trung Hải, bán đảo Bancăng và nhiều nước Đông Âu khác. Cho đến trước Học thuyết Truman, chính sách đối ngoại Mỹ chịu ảnh hưởng lớn từ Học thuyết Monroe (năm 1823), theo đó Mỹ không can thiệp vào công việc của châu Âu. Do vậy khi ra đời, học thuyết Truman trở thành một nền tảng quan trọng của chính sách đối ngoại Mỹ thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

 

3. Tiến trình lịch sử diễn ra cuộc Chiến tranh lanh

Thế giới trong thời kỳ Chiến tranh lạnh được chia thành ba cực chính:

Cực thứ nhất là khối chủ nghĩa tư bán hay còn gọi là những quốc gia First-World (chỉ những quốc gia liên kết chung với NATO hoặc chống lại Liên Xô trong Chiến tranh lạnh). Nhóm này bao gồm những nước tư bản phương Tây đứng đầu dẫn dắt bởi Hoa Kỳ, một quốc gia theo thể chế cộng hòa liên bang với hệ thống chính trị đa đảng. Đại đa số các quốc gia First-World theo thể chế cộng hòa hoặc quân chủ lập hiến cũng với hệ thống chính trị đa đảng và những tổ chức độc lập, nhưng về mặt kinh tế và chính trị thì họ chi phối chặt chẽ một mạng lưới của những quốc gia cộng hòa kém phát triển và các chế độ độc tài khác, hầu hết trong số đó từng là các thuộc địa cũ của Khối phương Tây.

Cực thứ hai là khối chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác Lênin, hay còn gọi là Second World (chỉ những quốc gia vệ tinh hoặc đồng minh của Liên Xô, bao gồm những thành viên của Hiệp ước Warsaw và những quốc gia khác theo Hệ thống xã hội chủ nghĩa) do Liên Xô đứng đầu. Liên Xô áp dụng hệ thống chính trị đơn đảng do một cấp lãnh đạo cao nhất là Xô viết tối cao và Bộ chính trị lãnh đạo. Các Đảng cộng sản lãnh đạo toàn bộ các mặt của quốc gia như báo chí, quân sự, kinh tế ... Điện Kremlin đã tài trợ tiền của cho những đảng cộng sản hoặc đảng cánh tả (ở các nước tư bản chủ nghĩa) trên khắp thế giới. Tuy nhiên khối thứ hai đã gặp một số khó khăn khi xảy ra sự chia rẽ Trung Quốc (thời kỳ ông Mao Trạch Đông) và Liên Xô vào khoảng những năm 1960.

Gần như tất cả các quốc gia thuộc địa đã giành được độc lập trong khoảng thời gian 1945 - 1960, trong đó có Việt Nam, và họ đã trở thành Third World (những quốc gia trung lập) trong Chiến tranh Lạnh. Trong nhóm này, Ấn Độ, Indonesia và Nam Tư là các quốc gia đi đầu trong việc thúc đẩy sự trung lập với Phong trào Không liên kết, nhưng thực tế thì các quốc gia này chưa bao giờ có nhiều tầm ảnh hưởng trên thế giới.

Sau khi chính quyền Mỹ ban hành ra Học thuyết Truman trong 2 năm đầu tiên sau khi kết thúc Thế chiến II (1945), chính quyền Mỹ đã bắt đầu viện trợ từ mùa hè năm 1947. Không chỉ viện trợ về kinh tế, Mỹ đã tận dụng không ngừng Học thuyết Truman vào mục đích mở rộng quân đội Hy Lạp lên mức 250.000 người vào năm 1948 nhằm chống lại lực lượng 25.000 người của lực lượng cộng sản. Một nửa số tiền viện trợ cho Hy Lạp được chi cho lương thực và kinh tế, một nửa còn lại được chi cho viện trợ quân sự. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, 80 triệu USD được chi cho mục đích can thiệp quân sự, hơn 4,5 triệu USD cho xây dựng đường sá, và hầu như không có viện trợ lương thực hoặc kinh tế.

Cùng lúc đó, Liên Xô củng cố sự kiểm soát của mình lên những quốc gia của khối Đông Âu, trong khi Hoa kỳ bắt đầu một chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản trên toàn cầu, mở rộng can thiệp quân sự tới những quốc gia Đông Âu (như ủng hộ phe chống cộng sản trong Nội chiến Hy Lạp và thành lập liên minh quân sự NATO). Sự kiện phong tỏa Berlin (1948-1949) là cuộc khủng hoảng ngoại giao lớn đầu tiên của Chiến tranh Lạnh. Với chiến thắng của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong Nội chiến Trung Quốc và sự bùng nổ của Chiến tranh Triều Tiên (1950-53), căng thẳng giữa hai bên đã lan rộng. 

Trên đây là phần trình bày khái quát của Luật Minh Khuê về Sự kiện khởi đầu Chiến tranh lạnh. Cảm ơn Quý bạn đọc đã theo dõi.