- 1. Sự tham gia của người bào chữa trong thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân
- 2. Sự tham gia của người bào chữa trong thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
- 3. Sự tham gia của người bào chữa trong thủ tục rút gọn
- 4. Sự tham gia của người bào chữa trong một số hoạt động tố tụng quốc tế
- 5. Một điểm mới trong trình tự, thủ tục xem xét yêu cầu thi hành bản án
1. Sự tham gia của người bào chữa trong thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân là chế định mối lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 nên các thủ tục, sự tham gia của người bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích cho pháp nhân cũng được coi trọng và quy định cụ thể.
Theo quy định tại Điều 434 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, mọi hoạt động tố tụng của pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự được thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Pháp nhân phải cử và bảo đảm cho ngưòi đại diện theo pháp luật của mình tham gia đầy đủ các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền. Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc không thể tham gia tô' tụng được thì pháp nhân phải cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của mình tham gia tô' tụng. Trường hợp pháp nhân thay đổi người đại diện thì pháp nhân phải thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tô' tụng. Tại thời điểm khỗi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà pháp nhân không có người đại diện theo pháp luật hoặc có nhiều ngưòi cùng là đại diện theo pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định một người đại diện cho pháp nhân tham gia tố tụng.
Theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 435 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có quyền tự bào chữa, nhờ người khác bào chữa cho pháp nhân. Các thủ tục liên quan đến việc đăng ký bào chữa và tham gia tố tụng của người bào chữa tương tự như thủ tục đốì vối người bị buộc tội là thể nhân. Ngoài ra, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có các quyền quan trọng khác như được thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm; được biết lý do pháp nhân mà mình đại diện bị khởi tố; được nhận các quyết định tô' tụng áp dụng đôì với pháp nhân. Người đại diện được trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại pháp nhân mà mình đại diện hoặc buộc phải thừa nhận pháp nhân mà mình đại diện có tội; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; được đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, ngưòi định giá tài sản, người phiên dịch, ngưòi dịch thuật theo quy định của Bộ luật này; được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu đã được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa cho pháp nhân kể từ khỉ kết thúc điều tra khi có yêu cầu. Ngưồi đại diện được tham gia phiên tòa, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi những người tham gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; tranh luận tại phiên tòa; phát biểu ý kiến sau cùng trước khi nghị án; xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án và khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Đáng chú ý, theo quy định tại Điều 442 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, trước khi lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, Điều tra viên, cán bộ điều tra phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thòi gian, địa điểm lấy lời khai. Khi tiến hành lấy lời khai lần đầu, Điều tra viên, cán bộ điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải giải thích cho người đại diện theo pháp luật của pháp nhân biết rõ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 435 của Bộ luật này và phải ghi vào biên bản. Người bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho pháp nhân cần lưu ý thêm khi tham gia, đánh giá và có kiến nghị vơi các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân như kê biên tài sản; phong tỏa tài khoản; tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án... Tất cả các hoạt động nêu trên đều có sự tham gia của người bào chữa sau khi đã đăng ký với Cơ quan điều tra mà không có bất cứ một sự hạn chế nào.
2. Sự tham gia của người bào chữa trong thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
Đốì với trường hợp người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi thì bắt buộc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tô' tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tuy nhiên, vổi tư cách là người trợ giúp về mặt pháp lý cho thân nhân của người bị buộc tội, nhưng người đó không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì người bào chữa, bảo vệ quyền lợi cần xem xét, đánh giá các điều kiện và thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Căn cứ để cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự phải dựa trên kết luận giám định pháp y tâm thần, sau đó, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ban hành quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Đốĩ với vụ án mà có căn cứ cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra phải làm sáng tỏ: (a) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra; (b) Tình trạng tâm thần và bệnh tâm thần của người có hành vi nguy hiểm cho xã hội; (c) Người có hành vi nguy hiểm cho xã hội có mất khả năng nhận thức hoặc khả nàng điều khiển hành vi của mình hay không. Theo khoản 2 Điều 448 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khi tiến hành tố tụng, Cơ quan điều tra phải bảo đảm có người bào chữa tham gia tố tụng từ khi xác định được người có hành vi nguy hiểm cho xã hội mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điểu khiển hành vi. Người đại diện của người đó có thể tham gia tố tụng trong trường hợp cần thiết.
Ngoài ra, người bào chữa, bảo vệ quyền lợi cũng cần đánh giá và có ý kiến về thông báo của thủ trưởng cơ sồ bắt buộc chữa bệnh tâm thần về việc người bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh thì cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trưng cầu giám định pháp y tâm thần về tình trạng bệnh của người bị bắt buộc chữa bệnh. Căn cứ kết luận giám định vê' việc người bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh, Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Trong trường hợp này, người bào chữa phải ngay lập tức tiến hành các biện pháp theo quyền hạn, trách nhiệm của mình để tham gia tố tụng nhằm bào chữa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người bị buộc tội.
3. Sự tham gia của người bào chữa trong thủ tục rút gọn
Theo Chương XXIV Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 trước đây đã quy định rõ việc xét xử theo thủ tục rút gọn. Đến Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 456 vể cơ bản giữ nguyên quy định thủ tục rút gọn được áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm khi có đủ các điều kiện: (a) Ngưòi thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang hoặc người đó tự thú; (b) Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; (c) Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; (d) Người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng. Thủ tục rút gọn được áp dụng trong xét xử phúc thẩm khi có một trong các điều kiện: (a) Vụ án đã được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo; (b) Vụ án chưa được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm nhưng có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.
Theo Điều 457 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định trong thời hạn 24 giờ kể từ khi vụ án có đủ điều kiện quy định tại Điều 456 của Bộ luật này, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn. Thủ tục rút gọn được áp dụng kể từ khi ra quyết định cho đến khi kết thúc việc xét xử phúc thẩm, trừ trường hợp bị hủy bỏ theo quy định tại Điều 458 của Bộ luật này. Đáng chú ý là quyết định áp dụng thủ tục rút gọn được giao cho bị can, bị cáo hoặc người đại diện của họ, gửi cho người bào chữa trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định và có thể bị khiếu nại. Do thời hạn điều tra theo thủ tục rút gọn chỉ có 20 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án, nên người bào chữa phải nắm rõ các trình tự của thủ tục này, nhận diện chính xác hành vi phạm tội, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Đồng thời, kịp thời có kiến nghị vể việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng; đặc điểm nhân thân của bị can, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để trợ giúp cho người bị buộc tội. Người bào chữa cũng phải lưu ý phiên tòa xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành nhưng các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa xét xử sơ thẩm được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này và không tiến hành nghị án.
4. Sự tham gia của người bào chữa trong một số hoạt động tố tụng quốc tế
Trong thực tiễn tham gia tố tụng hình sự, người bào chữa có nhận được các yêu cầu từ phía các cá nhân, tổ chức nưốc ngoài đang đầu tư, làm ăn hoặc cư ngụ, sinh sống tại Việt Nam, bị tình nghi phạm tội hoặc bị thiệt hại do hành vi phạm tội của người khác gây ra. Trong một số trường hợp, công dân Việt Nam sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì trốn ra nưốc ngoài, hoặc liên quan đến các cá nhân, tổ chức nưốc ngoài. Theo quy định tại Điều 2 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, mọi hoạt động tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này. Hoạt động tô' tụng hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công dân nước thành viên của điều ước quốc tê mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập thì được tiến hành theo quy định của điều ưốc quốc tế đó. Tuy nhiên, trong thực tiễn tô' tụng hình sự ở nước ta, nhiều vụ án xảy ra tình trạng bị can, bị cáo, người phải chấp hành án sau khi phạm tội hoặc có bản án đã bỏ trôn ra nước ngoài, hoặc phạm tội liên quan đến người nước ngoài, nhưng do nước ta chưa ký hiệp định tương trợ tư pháp nên thủ tục ủy thác tư pháp gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc.
Theo ý kiến của một luật gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài là tội phạm gây ra trên lãnh thổ một quốc gia, nhưng có liên quan đến một hoặc nhiều quốc gia khác. Sự liên quan này có thể là đốỉ tượng phạm tội, đối tượng bị xâm hại hoặc quy định về thẩm quyền xét xử vụ án đó. Các cơ quan chức năng ở mỗi quốc gia riêng biệt không thể độc lập tự giải quyết vấn đề tội phạm, trong đó, có việc giải quyết vụ án hình sự có yếu tố nưốc ngoài, mà cần phải hợp tác chặt chẽ vối nhau, hỗ trợ nhau trong thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm mang tính quốc tế nói chung, tiên hành các hoạt động tô' tụng hình sự để giải quyết các vụ án hình sự có yếu tô' nước ngoài nói riêng. Như vậy, trên góc độ tô' tụng hình sự có thể hiểu, việc giải quyết vụ án có yếu tô' nước ngoài là việc người có thẩm quyền, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng quy định của Bộ luật tô' tụng hình sự về hợp tác quốc tê' trong tô' tụng hình sự để tiến hành các hoạt động điều tra, truy tô' hoặc thủ tục tô' tụng hình sự khác đối vối vụ việc có dấu hiệu tội phạm do ngưòi nước ngoài thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam hoặc người Việt Nam thực hiện trên lãnh thổ nước ngoài, hoặc có các yếu tô' khác có liên quan đến nước ngoài.
Nội dung hợp tác quốc tê' trong tô' tụng hình sự để giải quyết các vụ án có yếu tố nước ngoài phụ thuộc vào nội dung các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập; vào chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức quốc tê về đấu tranh phòng, chông tội phạm mà Việt Nam là thành viên. Thực tiễn hợp tác trong tô' tụng hình sự cho thấy, thường là tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự; ủy thác hoặc phôi hợp thực hiện các hoạt động tô' tụng hình sự (khám xét, lấy lời khai, giám định...); dẫn độ để xét xử hoặc thi hành án hình sự; triệu tập người tham gia tố tụng; chuyển giao hồ sơ, vật chứng vụ án hình sự, giao nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án; tông đạt giấy tờ, thông báo kết quả tiến hành tố tụng, thông báo bản án và các thông tin khác
Chương XXXVI Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề cập việc tiếp nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tê mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, quy định của Bộ luật này, pháp luật về tương trợ tư pháp và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan. Ngoại trừ các quy định liên quan việc từ chối dẫn độ công dân Việt Nam để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nưốc ngoài, có một điểm cần lưu ý là việc bảo đảm sự trợ giúp về mặt pháp lý đô! với công dân Việt Nam. Theo khoản 3 Điều 499 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì việc khỏi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối vói người bị yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự được tiến hành theo quy định của Bộ luật này, có nghĩa là phải bảo đảm quyền tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa cho họ.
5. Một điểm mới trong trình tự, thủ tục xem xét yêu cầu thi hành bản án
Một điểm mới trong trình tự, thủ tục xem xét yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ theo quy định tại Điều 501 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 là Tòa án có thẩm quyền mở phiên họp bằng Hội đồng gồm ba Thẩm phán để xem xét yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nưốc ngoài đôì vối công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ. Phiên họp phải có mặt của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp, người bị yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài, Luật sư hoặc người đại diện của họ (nếu có). Sau khi khai mạc phiên họp, một thành viên của Hội đồng trình bày những vấn để liên quan đến yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối vối công dân Việt Nam và nêu ý kiến về cơ sở pháp lý của việc cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam tại Việt Nam. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát vê' việc cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối vói công dân Việt Nam tại Việt Nam. Người bị yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài, Luật sư, người đại diện của người này trình bày ý kiến (nếu có). Trên cơ sở đó, Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số việc cho thi hành hoặc không cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nưốc ngoài đối với người bị yêu cầu.
Người bào chữa có các quyền và nghĩa vụ trợ giúp cho người bị yêu cầu dẫn độ khi họ bị bắt tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc tạm hoãn xuất cảnh; tư vấn cho họ biện pháp đặt tiền bảo đảm; kiến nghị hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn. Trong đó, cần lưu ý theo Điều 508 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể hợp tác với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trong việc phối hợp điều tra hoặc áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Việc hợp tác phối hợp điều tra hoặc áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo thỏa thuận trong từng vụ việc cụ thể giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nưốc ngoài có liên quan...