- 1. Tái chiết khấu là gì?
- 2. Đối tượng tái chiết khấu
- 2.1. Chủ thể tham gia hoạt động tái chiết khấu
- 2.2. Đối tượng tái chiết khấu
- 3. Lãi suất tái chiết khấu
- 3.1. Lãi suất tái chiết khấu là gì?
- 3.2. Công thức tính lãi suất chiết khấu
- 3.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất tái chiết khấu
- 4. Phân biệt lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cấp vốn
1. Tái chiết khấu là gì?
Khoản 20 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định
"Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán."
2. Đối tượng tái chiết khấu
2.1. Chủ thể tham gia hoạt động tái chiết khấu
- Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
- Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương trong thời gian chưa chuyển đổi thành Ngân hàng hợp tác xã theo quy định của Luật Tổ chức tín dụng.
- Điều kiện thực hiện nghiệp vụ tái chiết khấu của các chủ thể trên là:
Căn cứ theo Điều 8 Thông tư 01/2012/TT-NHNN quy định
"Điều 8. Điều kiện thực hiện nghiệp vụ chiết khấu
Các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tham gia nghiệp vụ chiết khấu phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
1. Là các tổ chức tín dụng không bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.
2. Không có nợ quá hạn tại Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm đề nghị chiết khấu.
3. Có tài khoản tiền gửi mở tại Ngân hàng Nhà nước (Sở Giao dịch hoặc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước chi nhánh được ủy quyền) thực hiện chiết khấu.
4. Có hồ sơ đề nghị thông báo hạn mức chiết khấu giấy tờ có giá gửi Ngân hàng Nhà nước đúng hạn theo quy định tại Khoản 3 Điều 9 Thông tư này.
5. Có giấy tờ có giá đủ điều kiện và thuộc danh mục các giấy tờ có giá được chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước.
6. Trường hợp giao dịch theo phương thức gián tiếp, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải trang bị đầy đủ máy móc, thiết bị tin học, đường truyền và kết nối với hệ thống máy chủ tại Ngân hàng Nhà nước (Sở Giao dịch và Cục Công nghệ tin học)."
2.2. Đối tượng tái chiết khấu
Theo quy định của hệ thống pháp luật hiện hành thì
Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhân nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và những điều kiện khác.
Bao gồm:
- Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác.
- Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu.
- Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và các công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ.
- Các loại chứng khoán ( Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua,..)
Tuy nhiên, đối tượng nghiệp vụ tái chiết khâu chỉ bao gồm các loại Giấy tờ có giá sau:
- Tín phiếu kho bạc
- Trái phiếu kho bạc
- Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước
- Và các loại giấy tờ có giá khác được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ.
Tiêu chuẩn Giấy tờ có giá được tái chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước là:
- Được phát hành bằng đồng Việt Nam
- Được phép chuyển nhượng
- Thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chủ thể đề nghị chiết khấu phát hành
- Trường hợp tái chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá: Thời hạn còn lại tối đa của giấy tờ có giá là 91 ngày.
- Trường hợp chiết khấu có kỳ hạn: Thời hạn còn lại của giấy tờ có giá phải dài hơn thời hạn Ngân hàng nhà nước chiết khấu.
3. Lãi suất tái chiết khấu
3.1. Lãi suất tái chiết khấu là gì?
Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất Ngân hàng Nhà nước áp dụng để tính số tiền thanh toán khi thực hiên chiết khấu giấy tờ có giá. Lãi suất chiết khấu do Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố, phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
3.2. Công thức tính lãi suất chiết khấu
Lãi suất chiết khấu có thể tính bằng:
+ Chi phí huy động vốn (funding cost)
+ Trung bình trọng số chi phí vốn (Weighted Average Cost of Capital, WACC).
- Chi phí huy động vốn
Lãi suất chiết khấu có thể được tính bằng chi phí gọi vốn. Đây là tỷ lệ lợi tức người bỏ vốn mong muốn thu lại từ dự án. Nói cách khác, lãi suất chiết khấu là chi phí sử dụng vốn, hay chi phí cơ hội của vốn.
Ví dụ: Nếu rút tiền tiết kiệm với lãi suất 5% để đầu tư thì có thể tính lãi suất chiết khấu là 5%.
- Trung bình trọng số chi phí vốn
WACC = chi phí sử dụng vốn trung bình của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có 2 nguồn gọi vốn chính:
- Vay thương mại => chi phí của khoản nợ (cost of debt) là lãi suất của khoản vay (1-tax)*lãi suất; và,
- Vốn góp cổ đông => chi phí vốn cổ phần (cost of equity) là thu nhập mong muốn của cổ đông.
WACC có thể tính bằng chi phí sử dụng trung bình của hai nguồn vốn trên.
WACC = re * E/(E+D) + rD(1-TC)* D/(E+D)
Trong đó:
- re: tỷ suất thu nhập mong muốn của cổ đông
- rD: lãi suất mong muốn của chủ nợ
- E: giá thị trường cổ phần của công ty
- D: giá thị trường nợ của công ty
- TC: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
re = [Div0(1+g)/P0] + g
Trong đó:
- P0 là giá cổ phiếu của doanh nghiệp tại thời điểm gốc
- Div0 là cổ tức của cổ phiếu doanh nghiệp tại thời điểm gốc
- g: tỷ lệ tăng trưởng dự kiến của cổ tức.
3.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất tái chiết khấu
- Mức cung cầu về tiền tệ trên thị trường
Đây là một yếu tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành lãi suất trên thị trường. Và lãi suất tái chiết khấu cũng không nằm ngoài vòng ảnh hưởng.
Cung tiền tệ là tổng thể tiền tệ được sử dụng để giao dịch thanh toán trên thị trường.
Quyền kiểm soát mức cung tiền tệ là do Chính phủ, bởi vì hạn chế mức cung tiền tệ là điều cần thiết để tiền có giá trị. Cầu tiền tệ là nhu cầu về tiền của cá nhân, đơn vị, tổ chức,… để làm phương tiện giao dịch trao đổi, mau bán hàng hóa, dịch vụ,…
Mối quan hệ giữa mức cung tiền tệ với lãi suất là: nếu mức cung tiền tệ tăng so với cầu tiền tệ thì lãi suất giảm và ngược lại, nếu mức cung tiền tệ giảm so với cầu tiền tệ thì lãi suất tăng.
- Chính sách tiền tệ của chính phủ
Thực tế như chúng ta đã biết thì lãi suất tín dụng tăng quá cao hay giảm quá thấp đều ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế. Vì vậy Nhà nước đã thực hiện các chính sách tiền tệ của mình thông qua Ngân hàng Nhà nước Trung ương để chỉ huy toàn bộ hệ thống Ngân hàng nhằm điều chỉnh lãi suất, bình ổn nền kinh tế. Với tư cách ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng Trung ương thực hiện vai trò chỉ huy đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng của một quốc gia.
Với công cụ lãi suất, Ngân hàng Trung ương có thể điều tiết hoạt động của nền kinh kế vĩ mô bằng các phương pháp như sau: Ngân hàng có thể quy định mức lãi suất cho thị trường, chủ động điều chỉnh lãi suất để điều chỉnh tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, hạn chế hoặc mở rộng tín dụng nhằm thực hiện được mục tiêu giảm lạm phát và tăng trưởng kinh tế theo từng thời kì.
Khi lãi suất tăng lên làm cho nhu cầu tiêu dùng và đầu tư giảm thì Ngân hàng Nhà nước sẽ áp dụng giảm lãi suất tái chiết khấu cho các ngân hàng thương mại.
Khi lãi suất thị trường giảm, thừa tiền trong thị trường thì Ngân hàng nhà nước sẽ tăng lãi suất tái chiết khấu để giảm bớt khối lượng tín dụng cho các ngân hàng thương mại nhằm buộc các ngân hàng thương mại phải tăng lãi suất tín dụng đối với các thành phần trong nền kinh tế nhằm cân bằng giá trị của đồng tiền
- Lạm phát
Lạm phát cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tài chính nói chung và lãi suất tái chiết khấu nói riêng.
Khi lạm phát dự tính tăng lên, chi phí thực của việc vay tiền giảm xuống, kích thích người đi vay. Lúc này một sự giảm xuống của cung và một sự tăng lên của cầu đối với quỹ cho vay sẽ đẩy lãi suất tăng lên.
Nói tóm lại, Khi dự tính lạm phát tăng, lãi suất tăng.
Điều này có nghĩa quan trọng trong việc dự đoán lãi suất khi nền kinh tế có xu hướng lạm phát tăng. Trên cơ sở đó nhà nước sẽ có một chính sách hợp lý để kiềm chế lạm phát.
- Rủi ro kỳ hạn tín dụng
Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến nhiều hệ quả như:
Đối với ngân hàng: Nếu một ngân hàng thương mại có tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ lớn, có những thông tin về việc ngân hàng có nhiều món vay không thu hồi được hoặc ngân hàng đó bị Ngân hàng Nhà nước đưa vào diện kiểm soát đặc biệt thì uy tín của ngân hàng đó bị giảm sút nghiêm trọng. Thêm nữa, rủi ro tín dụng xảy ra sẽ làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại đối với các nguồn tiền gửi.
Đối với nền kinh tế chung: Một khi rủi ro tín dụng xảy ra, uy tín và khả năng thanh toán của ngân hàng ảnh hưởng đầu tiên. Tiếp đó, người dân và các tổ chức đang có tiền gửi tại ngân hàng kéo đến ồ ạt đến rút tiền và chấm dứt quan hệ tín dụng.
Do đó, phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng không những là vấn đề sống còn đối với ngân hàng mà còn là yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế nói chung, góp phần vào sự ổn định và phát triển của toàn xã hội. Mục tiêu của quản lý rủi ro tín dụng là tối đa hóa lợi nhuận sau khi đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng với mức độ rủi ro trong giới hạn cho phép.
4. Phân biệt lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cấp vốn
Lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn đều là lãi suất mà Ngân hàng TW áp dụng cho Ngân hàng thương mại, với tài sản thế chấp là các loại giấy tờ có giá trị (trái phiếu chính phủ, thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn…).
Phân biệt lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn
Tuy nhiên, lãi suất tái cấp vốn là hình thức ngân hàng Nhà nước cấp tín dụng có bảo đảm cho các ngân hàng nhằm cung ứng vốn ngắn hạn. Như vậy lãi suất tái cấp vốn là lãi suất được sử dụng trong trường hợp NHNN tái cấp vốn cho các ngân hàng.
Còn lãi suất tái chiết khấu là một hình thức của lãi suất tái cấp vốn được áp dụng khi ngân hàng nhà nước tái chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn cho các ngân hàng.
Có thể hiểu lãi suất tái cấp vốn cũng gần giống như lãi suất tái chiết khấu, nhưng đối tượng ở đây là các khoản cho vay của các ngân hàng thương mại, và sau đó họ bán lại các khoản này cho Ngân hàng Nhà nước để đổi lấy tiền mặt.
Các lãi suất này khác nhau tùy vào loại chứng từ đem ra chiết khấu, vào các khoản vay của ngân hàng, vào từng thời điểm theo chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước theo sự lèo lái của chính phủ mỗi quốc gia.