1. Phong tục tập quán là gì?

 “Phong tục tập quán là những thói quen văn hóa có tính dân tộc và tính lịch sử được hình thành trong đời sống của con người, trở thành những chuẩn mực văn hóa được mọi người thừa nhận và tuân theo. Những chuẩn mực văn hóa đó có thể là những quy phạm xã hội mang tính bắt buộc, hay cũng có thể là những quy ước văn hóa mang tính tự nguyện đối với các thành viên trong một cộng đồng xã hội. Đó là những ứng xử văn hóa của con người đối với tự nhiên, đối với xã hội và đối với chính bản thân mình đã trở thành quen thuộc có tính chuẩn mực được lưu truyền lâu dài trong một cộng đồng xã hội.”

Từ các khái niệm trên có thể hiểu, phong tục tập quán là những hành vi ứng xử, thói quen, nếp sinh hoạt tương đối ổn định thuộc về đời sống của con người được công nhận bởi một cộng đồng, quần thể và được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Ví dụ: Phong tục lễ hội, văn hoá, sinh hoạt, cưới xin, ma chay…

2. Đặc điểm của phong tục tập quán 

+ Phong tục tập quán luôn mang tính lịch sử, tính dân tộc, tính vùng miền và tính giai cấp;

+ Tính ổn định, bền vững được hình thành chậm chạp lâu dài trong quá trình phát triển  lịch sử;

+ Là cơ chế tâm lý bên trong, nó điều khiển, điều chỉnh hành vi, lối sống các thành viên  trong nhóm;

+ Phong tục tập quán được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng con đường  truyền đạt, bắt chước thông qua giao tiếp của cá nhân;

+ Nó có tính bảo thủ rất lớn nhưng có tác động tâm lý mạnh mẽ tới đời sống vật chất và  tinh thần của con người.

Chức năng của phong tục tập quán là hướng dẫn hành vi ứng xử của con người trong nhóm xã hội; Giáo dục nhận thức cho thế hệ trẻ, xây dựng tình cảm và kỹ năng sống, hành vi ban  đầu cho con người; Là chất keo gắn bó các thành viên trong nhóm ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới hoạt động, đời sống của các cá nhân và nhóm; Là tiêu chuẩn thước đo đánh giá về mặt đạo đức, xã hội các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm xã hội với nhau; Là hình thức lưu giữ những nét sinh hoạt văn hoá độc đáo của đời sống văn hoá nhóm.

3. Tập quán về hôn nhân gia đình là gì?

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với nhiều tập quán tốt đẹp, đa dạng, phong phú, quy định về việc áp dụng các phong tục tập quán trong pháp luật hôn nhân và gia đình thể hiện việc tôn trọng những tập quán tốt đẹp, đồng thời cũng làm rõ điều kiện để tập quán được áp dụng, nhấn mạnh việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân gia đình, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.

Theo đó pháp luật quy định: Tập quán về hôn nhân và gia đình là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi, lặp lại trong một thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng.

Tập quán về hôn nhân và gia đình mang những đặc điểm sau: (1) là những quy tắc xử sự , (2)nội dung quy tắc: quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân; (3)phạm vi áp dụng: một vùng miền hoặc một cộng đồng

4. Quy định mới của pháp luật về áp dụng tập quán trong hôn nhân gia đình

Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục tập quán thể hiện bản sắc mỗi dân tộc mà không trái nguyên tắc quy định tại Luật này thì được tôn trọng và phát huy”; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì ghi nhận:“Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 và không vi phạm điều cấm của Luật này được áp dụng”.

Điều dễ thấy nhất là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định theo hướng hạn chế áp dụng phong tục tập quán. Nếu như văn bản năm 2000 quy định các phong tục tập quán thể hiện bản sắc của dân tộc chỉ cần không trái nguyên tắc chung của Luật như: hôn nhân tự nguyện tiến bộ, một vợ, một chồng, vợ chồng bình đẳng; vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình; Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ, con nuôi… thì được tôn trọng và phát huy. Thì Luật năm 2014 chỉ cho áp dụng phong tục tập quán khi pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận, nếu phong tục tập quán đó không trái với nguyên tắc và không vi phạm điều cấm của Luật.

Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định theo hướng khuyến khích áp dụng phong tục tập quán, như nội dung phong tục tập quán có quy định trong Luật và thậm chí vi phạm điều cấm vẫn có thể áp dụng còn Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 hạn chế áp dụng bằng cách đạt ra những điều kiện để vợ chồng có thể áp dụng tập quán, bên cạnh việc đảm bảo tính thồng nhất của việc á dụng pháp luật theo đó chỉ được áp dụng khi không có quy định của pháp luật về vấn đề này đồng thời yêu cầu sự thỏa thuận của hai bên. Đây là một điểm mới, tiến bộ hơn, vừa đảm bảo giữ gìn các nét văn hóa đặc sắc của các dân tộc, vừa đảm bảo lành mạnh hóa xã hội, loại trừ những hủ tục, lạc hậu.

5. Một số nguyên tắc trong áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình

Một mục đích cơ bản của việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình là nhằm tôn trọng và phát huy bản sắc dân tộc, truyền thống văn hoá, tâm lý, nguyện vọng của người dân. Từ đó, việc giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình sẽ có nhiều thuận lợi đặc biệt trong việc khuyến khích các đương sự tự giác thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, hạn chế sự mất đoàn kết trong cộng đồng nói chung và trong gia đình nói riêng. Đẻ thực hiện tốt mục đích trên, theo chúng tôi việc áp dụng phong tục, tập quán trong giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình cần đảm bảo các nguyên tắc, điều kiện sau:

Thứ nhất, phong tục, tập quán được áp dụng có nội dung không trái với các nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình.

Về nguyên tắc, Nhà nước và xã hội chỉ tôn trọng và phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, "Tính chất tốt đẹp" của phong tục, tập quán là một giá trị trừu tượng, nội dung của giá trị này thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của xã hội, đồng thời cũng phụ thuộc vào quan niệm của từng cá nhân, gia đình, cộng đồng, tầng lớp xã hội và giai cấp. Vì vậy, nó có thể được xác định đánh giá theo nhiều góc độ, nhiều quan niệm khác nhau. (Trên thực tế, trong quá trình soạn thảo Luật HN-GĐ năm 2000, đã có không ít những ý kiến lo ngại về những khó khăn trong kế thừa, phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp, đặc biệt trong áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình, bởi vì: rất khó xác định phong tục, tập quán nào là tốt đẹp cần được kế thừa và phát huy; phong tục, tập quán nào cần được xoá bỏ, do đó, có thể tạo kẽ hở cho những tập tục lạc hậu tồn tại, hoặc gây ra sự lạm dụng tập quán nhiều hơn là áp dụng qui phạm pháp luật, gây khó khăn trong việc đưa Luật HN-GĐ vào đời sống xã hội….).

Tuy nhiên, ở góc độ chung nhất, tính chất tốt đẹp của phong tục, tập quán chịu sự qui định bởi bản chất của chế độ xã hội. Bản chất của chế độ xã hội phản ánh vào các quan hệ hôn nhân và gia đình thông qua các nguyên tắc cơ bản về xây dựng và củng cố chế độ hôn nhân và gia đình. Do đó, nhà nước thường lấy các nguyên tắc cơ bản của Luật làm tiêu chí xác định giá trị và chuẩn mực đạo đức của truyền thống, phong tục, tập quán trong gia đình. Xác định dựa trên căn cứ như vậy, sẽ giúp nhà làm luật, giải thích pháp luật và áp dụng pháp luật giải quyết được các vấn đề sau:

Việc áp dụng phong tục, tập quán không làm mất đi mà ngược lại góp phần phát huy bản chất của chế độ hôn nhân và gia đình mới;

Loại bỏ được sự tuỳ tiện và tạo sự thống nhất trong đánh giá và áp dụng truyền thống, phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình;

Tìm ra và loại bỏ được những truyền thống, phong tục, tập quán lạc hậu không còn phù hợp với chế độ hôn nhân và gia đình mới.
Như vậy, Toà án chỉ áp dụng những phong tục, tập quán có bản chất phù hợp với các nguyên tắc cơ bản sau:

- Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Ví dụ, theo tập quán của người Mường, Thái, Thổ ở tỉnh Thanh Hoá thì khi vợ chồng mâu thuẫn với nhau vai trò của đạI diện hai họ lúc cưới xin rất quan trọng trong việc hoà giải. Nếu hai vợ chồng có ý định ly hôn thì những người đại diện cho họ vợ và họ chồng tìm mọi cách phân tích, hoà giải để hai vợ chồng đoàn tụ với nhau(4). Đây là tập quán rất tốt cần được vận dụng cho các án kiện ly hôn của những đôi vợ chồng thuộc các tộc người này.

- Tôn trọng và bảo vệ quan hệ hôn nhân giữa các công dân Việt nam khác nhau dân tộc và tôn giáo; giữa công dân Việt nam với người nước ngoài. Ví dụ: tập quán xâm canh giữa người dân ở biên giới hai nước dẫn đến tình trạng hôn nhân giữa những người cùng dân tộc hoặc khác dân tộc nhưng mang quốc tịch hai nước khác nhau mang tính chất phổ biến mà không theo những thủ tục và điều kiện áp dụng cho hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Đây là tập quán mang ưu điểm cơ bản là củng cố và phát triển quan hệ và tình đoàn kết giữa cư dân hai nước láng giềng. Do đó, cần được tôn trọng và có những qui định và đường lối giải quyết phù hợp với tính đặc thù của quan hệ cả trong việc thưà nhận và giải quyết các tranh chấp phát sinh

- Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình. Đồng bào các dân tộc ít người thường có tâm lý trọng nam khinh nữ dẫn đến sinh đẻ nhiều vi phạm qui định về kế hoạch hoá gia đình, nhiều dân tộc coi có nhiều con, đặc biệt nhiều con trai phản ánh sự thịnh vượng của gia đình. Đây là tập quán không nên khuyên khích và phát huy.

- Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau.

- Không biệt đối xử giữa các con trong gia đình. Trên thực tế, hầu hết các ở các dân tộc ít người đều có sự phân biệt đối xử giữa con trai và con gái. Nhiều dân tộc (Tày, Nùng, Thái ở Lào Cai…) cho con trai được hưởng gia tài, con trai trưởng đựoc tôn trọng ngang với người cha(5). Tập quán này Toà án cần phê phán, không áp dụng trong việc giải quyết các tranh chấp, đặc biệt các tranh chấp liên quan đến tài sản trong gia đình.

- Bảo vệ phụ nữ và trẻ em. Nhìn chung, địa vị của người phụ nữ và trẻ em ở các dân tộc ít người hiện nay đã được cải thiện nhưng còn rất thấp kém, chế độ phụ quyền là phổ biến (trừ một số dân tộc ở Tây nguyên vẫn duy trì chế đậo mẫu hệ), hầu hết các các quyền lợi về nhân thân và tài sản do người đàn ông đựoc hưởng. Tập quán này rất lạc hậu không áp dụng để giải quyết các tranh chấp, đặc biệt trong việc giải quyết các tranh chấp về tảo hôn, đa thê, quyền sở hữu trong gia đình…

Hai là, Chỉ áp dụng những phong tục, tập quán đã trở thành thông dụng, được đông đảo mọi người sinh sống trên cùng địa bàn, cùng dân tộc, cùng tôn giáo thừa nhận.

Cũng với sự phát triển đa dạng và phức tạp của các quan hệ xã hội, phong tục, tập quán cũng có thể mất đi hoặc phát sinh mới trong một cộng đồng, một địa phương. Thậm chí, cùng một phong tục tập quán ở một dân tộc, tôn giáo, khu vực lại tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau. Có phong tục, tập quán chỉ áp dụng cho một dòng họ, một gia đình hoặc một nhóm gia đình (Vi dụ: tập quán ở rể của người Thái cư trú ở một số tỉnh là 3 năm, nhưng một dòng họ hoặc một gia đình lại có tập quán ở rể là 5 năm…). Trong sự trộn lẫn giữa các hình thái phong tục, tập quán, Toà án cần xác định những phong tục, tập quán nào được đông đảo mọi người trong cộng đồng và khu vực thừa nhận; những phong tục, tập quán nào không có tính phổ biến, it người thừa nhận. Về nguyên tắc, Toà án Toà án chỉ áp dụng những phong tục, tập quán đại diện tính truyền thống, bản sắc văn hoá, thói quen xử sự của một cộng đồng hoặc một khu vực.

Ba là, phong tục, tập quán chỉ được áp dụng trên địa bàn có thói quen xử sự theo tập quán đó

Nguyên tắc này xuất phát từ tính cục bộ của phong tục, tập quán, mỗi dân tộc, tôn giáo, khu vực có phong tục, tập quán riêng và chúng chỉ có giá trị điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong nội bộ dân tộc, tôn giáo hoặc giữa các cá nhân cùng sinh sống tại một địa phương. Tính cục bộ của phong tục, tập quán đòi hỏi Toà án không thể áp đặt phong tục, tập quán của dân tộc, tôn giáo, địa phương này vào giải quyết các tranh chấp giữa những người có dân tộc, tôn giáo, địa phương khác (Ví dụ: không thể áp dụng tập quán ở Sơn La để giảiq uyết các tranh chấp ở Hoà Bình hoặc không thể áp dụng tập quán của người H’Mông ở Hà Giang để giải quyết tranh chấp của người Kinh sinh sống ở Hà Giang…). Toà án cũng không thể áp đặt phong tục, tập quán của một bên để giải quyết tranh chấp mà trong đó các bên khác nhau về dân tộc, tôn giáo, địa phương sinh sống và phong tục, tập qúan giữa các dân tộc, tôn giáo, địa phương này mâu thuẫn với nhau về giải quyết tranh chấp (Ví dụ: Chồng là người dân tộc Thái, vợ là dân tộc Kinh khi ly hôn cả hai đều yêu cầu áp dụng tập quán của dân tộc mình để giải quyết tranh chấp). Trong trường hợp có sự xung đột về các tập quán khác nhau mà các bên không thoả thuận được, theo chúng tôi Toà án cần áp dụng phong tục, tập quán nơi xảy ra tranh chấp về tài sản trong gia đình và áp dụng phong tục, tập quán nơi xác lập quan hệ hôn nhân và gia đình để giải quyết các tranh chấp về nhân thân

Bốn là, Tôn trọng sự thoả thuận của đương sự trong việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình.

Thực hiện nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính độc lập, tính tự chủ, tự định đoạt, tự chịu trách nhiệm của các đương sự trong giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình; đồng thời, nó có ý nghĩa xác định tập quán áp dụng. Sự thoả thuận của các đương sự về việc áp dụng phong tục, tập quán cần được đặt ra trong các trường hợp sau:

- Tranh chấp chưa có qui phạm pháp luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh;

- Tranh chấp đồng thời có thể được giải quyết trên cơ sở qui phạm pháp luật hoặc phong tục, tập quán;

- Các bên đương sự khác nhau về dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, địa phương sinh sống dẫn đến có sự khác nhau về phong tục, tập quán (Ví dụ: Chồng người dân tộc kinh quê ở Hưng yên, vợ là người dân tộc H’mông quê ở Lào cai)

Khi thấy có thể áp dụng được phong tục tập quán, thì cần để cho đương sự lựa chọn, thoả thuận việc áp dụng qui phạm pháp luật hay phong tục, tập quán trong giải quyết tranh chấp của mình. Tuyệt đối không được áp đặt, cưỡng ép đương sự, đồng thời cũng không được cấm đoán, ngăn cản đưong sự lựa chọn phong tục, tập quán. Trong trường hợp phải áp dụng phong tục, tập quán (chưa có qui phạm pháp luật điều chỉnh, áp dụng phong tục, tập quán có hiệu quả hơn hoặc xuất phát từ đặc thù của tranh chấp…), cần phải giải thích cho đưong sự rõ nguyên nhân, mục đích của việc vận dụng phong tục, tập quán. có thể mời các đạI diện của cộng đồng như già làng, trưởng bản hoặc chức sắc tôn giáo…) tham gia vào việc thoả thuận áp dụng phong tục, tập quán. Nếu các đương sự không thể thoả thuận được với nhau về áp dụng phong tục, tập quán nào, hoặc những phong tục, tập quán mà đương sự thoả thuận có nội dung trái với các nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình, Toà án cần giải quyết tranh chấp bằng qui phạm pháp luật hoặc áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết.

Năm là, phát huy vai trò của những người đứng đầu cộng đồng (già làng, trưởng bản) hoặc các chức sắc tôn giáo trong việc áp dụng phong tục, tập quán giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình.

Phần lớn các dân tộc ít người đều có những già làng, trưởng bản, đây là những người có uy tín rất cao trong cộng đồng, họ được coi là đạI diện của nhân dân trong các mối quan hệ. Mặt khác, già làng, trưởng bản là những người gìn giữ các phong tục, tập quán của cộng đồng, địa phương mình. Với vai trò lớn như vậy, già làng, trưởng bản là người có khả năng giáo dục, thuyết phục, hoà giải, khuyên bảo đồng bào của họ rất hiệu quả, dung hoà đựoc các tranh chấp, đảm bảo tính đoàn kết của cộng đồng. Trên thực tế, việc giải quyết các tranh chấp có sự tham gia của các già làng, trưởng bản với vai trò hoà giải, xác định tập quán đạt hiệu quả cao hơn rất nhiều so với việc giải quyết tranh chấp không có sự tham gia của những người này.

Tóm lại, về áp dụng phong tục, tập quán trong giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình có rất nhiều vấn đề cần tiếp tục trao đổi rộng rãi để có được sự thống nhất quan niệm, giúp cho phong tục, tập quán đựoc sử dụng có hiệu quả với hai tư cách vừa là công cụ bổ sung điều chỉnh một số quan hệ hôn nhân và gia đình vừa là yếu tố góp phần gìn giữ những giá trị truyền thống, chuẩn mực đạo đức của gia đình Việt nam. Theo chúng tôi, trước mắt các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:

- Xây dựng một hệ thống qui phạm pháp luật hoàn chỉnh về kế thừa, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán trong gia đình. Bao gồm, các qui phạm điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình mang tính tộc người và khu vực; các qui phạm pháp luật qui định danh mục các phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình không đựoc áp dụng và danh mục các phong tục, tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình được khuyến khích và phát huy.

- Các cơ quan áp dụng và bảo vệ pháp luật (cơ quan hành chính, toà án, viện kiểm sát…) và Bộ tư pháp cần tiến hành tập huấn chuyên sâu về Luật HN-GĐ nói chung và nhiệm vụ kế thừa, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp nói riêng cho thẩm phán, kiểm sát viên, thư ký toà án, hội thẩm nhân dân, hộ tịch viên và nhân viên tư pháp khác. Tránh hiện tượng cực đoan hoặc phủ nhận toàn bộ các giá trị truyền thống trong phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình, hoặc quá lạm dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình làm giảm tính hiệu lực của các qui phạm pháp luật HN-GĐ;

- Tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo… đẩy mạnh công tác phổ biến tuyên truyền và giáo dục pháp luật HN-GĐ trong nhan dân. Qua đó, nâng cao ý thức của nhân dân trong gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, giúp nhân dân nhận biết các phong tục tập quán lạc hậu cần được loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội và đời sống gia đình%.