Câu hỏi của Bạn đưa ra chúng tôi xin trích lại như sau: 

"Một số nơi ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn còn trường hợp thách cưới cao mang tính chất gả bán (như đòi bạc trắng, tiền mặt, của hồi môn, trâu, bò, chiêng ché…để dẫn cưới ). Vậy, tôi xin hỏi việc áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình được pháp luật quy định như thế nào? Việc thách cưới trên có vi phạm pháp luật không?"

Cảm ơn bạn đã sử dụng dịch vụ tư vấn của Luật Minh Khuê. Câu hỏi được chúng tôi biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hôn nhân của Công ty Luật Minh Khuê.

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ pháp lý:

Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19 tháng 06 năm 2014 của Quốc hội khóa XIII;

- Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình.

Nội dung tư vấn: 

1. Các khái niệm: 

Để trả lời cho câu hỏi của bạn, trước tiên ta cần phải hiểu rõ các khái niệm có liên quan: về hôn nhân, gia đình, chế độ hôn nhân và gia đình, tập quán về hôn nhân và gia đình, kết hôn, kết hôn trái pháp luật, yêu sách của cải trong kết hôn. Các khái niệm này đều được định nghĩa tại Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như sau:

- Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.

Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.

Chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.

Tập quán về hôn nhân và gia đình là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi, lặp lại trong một thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng.

Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này.

- Yêu sách của cải trong kết hôn là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá đáng và coi đó là điều kiện để kết hôn nhằm cản trở việc kết hôn tự nguyện của nam, nữ.

Như vậy, tập quán về hôn nhân và gia đình cũng được pháp luật điều chỉnh dựa trên quy tắc xử sự lặp đi lặp lại trong một thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên nếu đòi hỏi về vật chất một cách quá đáng và coi đó là điều kiện kết hôn nhằm cản trở hôn nhân tự nguyện giữa nam và nữ thì đó là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm theo điểm đ khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

2. Các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình:

Chế độ hôn nhân và gia đình được pháp luật bảo đảm dựa trên các nguyên tắc quy định tại Điều 2 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như sau:

1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

3. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.

4. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

5. Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.

Như vậy, với các nguyên tắc này thì pháp luật tôn trọng hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Pháp luật còn khuyết khích kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam nhưng nếu có hành vi gây cản trở hôn nhân tự nguyện của nam và nữ thì sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vì đó là hành vi bị nghiêm cấm thực hiện.

3. Áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình:

Tập quán về hôn nhân và gia đình là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi, lặp lại trong một thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng.

Theo Điều 7 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình được quy định như sau: 

Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 và không vi phạm điều cấm của Luật này được áp dụng.

Thực tế hiện nay, các phong tục, tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình của các dân tộc như: nam nữ tự do tìm hiểu, tự do lựa chọn người bạn đời; hoặc sau khi kết hôn, tùy theo sự sắp xếp, thỏa thuận giữa hai gia đình, vợ, chồng  có thể cư trú ở nhà vợ hoặc ở nhà chồng (tục đổi sữa mẹ); cha mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục con nên người, có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con gây ra… vẫn được thực hiện và phù hợp với pháp luật của nhà nước ta không bị nghiêm cấm mà khuyến khích phát huy, áp dụng.

Mặc dù pháp luật khuyến khích phát huy, áp dụng những tập quán trong hôn nhân và gia đình nhưng những tập quán đó phải là những tập quán có văn hóa, đạo đức tốt đẹp; còn những tập quán lạc hậu cần thì phải xóa bỏ vậy nên vẫn còn có một số tập quán lạc hậu mà pháp luật phải nghiêm cấm. Tại các Điều 2, 3, 4, 5 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định về nguyên tắc, thỏa thuận, giải quyết vụ việc và tuyên truyền, vận động về áp dụng tập quán trong hôn nhân gia đình. Đặc biệt tại Điều 6 có quy định về trách nhiệm xây dựng danh mục tập quán được áp dụng như sau:

1. Trong thời hạn ba năm kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) có trách nhiệm xây dựng, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê duyệt danh mục các tập quán về hôn nhân và gia đình được áp dụng tại địa phương.

2. Căn cứ vào thực tiễn áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp sửa đổi, bổ sung danh mục tập quán đã ban hành.

Ban hành kèm theo Nghị định số 126/2014/NĐ-CP này có phụ lục danh mục các tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình cần vận động xỏa bỏ hoặc cấm áp dụng, trong đó các tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình cấm áp dụng được quy định tại Mục II của Phụ lục như sau:

1. Chế độ hôn nhân đa thê.

2. Kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời.

3. Tục cướp vợ để cưỡng ép người phụ nữ làm vợ.

4. Thách cưới cao mang tính chất gả bán (như đòi bạc trắng, tiền mặt, của hồi môn, trâu, bò, chiêng ché… để dẫn cưới).

5. Phong tục “nối dây”; Khi người chồng chết, người vợ góa bị ép buộc kết hôn với anh trai hoặc em trai của người chồng quá cố; khi người vợ chết, người chồng góa bị ép buộc kết hôn với chị gái hoặc em gái của người vợ quá cố.

6. Bắt buộc người phụ nữ góa chồng hoặc người đàn ông góa vợ, nếu kết hôn với người khác thì phải trả lại tiền cưới cho nhà chồng cũ hoặc nhà vợ cũ.

7. Đòi lại của cải, phạt vạ khi vợ, chồng ly hôn./.

Như vậy, theo quy định thì pháp luật khuyến khích phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức, tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình, nghiêm cấm và vận động xóa bỏ những tập quán lạc hậu. Trong đó có quy định rõ hành vi thách cưới cao mang tính chất gả bán (như đòi bạc trắng, tiền mặt, của hồi môn, trâu, bò, chiêng ché… để dẫn cưới) là hành vi bị nghiêm cấm. Chính vì vậy tập quán thách cưới cao mang tính chất gả bán là hành vi vi phạm pháp luật.

Trên đây là toàn bộ ý kiến tư vấn của Công ty Luật Minh Khuê về vấn đề áp dụng tập quán trong hôn nhân và gia đình về câu hỏi của bạn. Pháp luật khuyến khích phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức, tập quán tốt đẹp nhưng nghiêm cấm áp dụng và vận động xóa bỏ những tập quán còn lạc hậu, không tôn trọng hôn nhân của nam nữ. Bạn có thể tham khảo thêm các bài viết và văn bản Luật Hôn nhân và Gia đình cùng các văn bản hướng dẫn có liên quan tại phần Tư vấn Luật Hôn nhân tại website của công ty Luật Minh Khuê.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: luatsu@luatminhkhue.vn  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Luật Hôn nhân.