Điểm c Khoản 2 Điều 35 Luật giao thông đường bộ năm 2008 đã quy định việc thả rông súc vật trên đường bộ là một trong những hoạt động không được thực hiện trên đường bộ. Vậy nên đối với những trường hợp thả rông súc vật trên đường thì tùy vào mức độ và hậu quả của hành vi xảy ra mà chủ sở hữu của súc vật sẽ phải chịu cách trách nhiệm tương ứng gồm: Xử phạt vi phạm hành chính; Trách nhiệm hình sự và Trách nhiệm dân sự. Cụ thể như sau:

 

1. Thả rông súc vật nhưng không gây ra tai nạn

Như đã nêu trên hành vi thả rông súc vật là một trong những hành vi bị cấm theo quy định của Luật giao thông đường bộ vậy nên dù không gây ra hậu quả gì về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản thì chủ sở hữu của súc vật vẫn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm điều cấm của mình. Cụ thể điểm đ Khoản 1 Điều 10 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP có quy định đối với hành vi để súc vật đi trên đường bộ không đảm bảo an toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông trên đường bộ thì chủ sở hữu súc vật, người chiếm hữu, sử dụng súc vật (trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật) có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền là từ 60 triệu đồng đến 100 triệu đồng

 

2. Thả rông súc vật gây ra thiệt hại (gây tai nạn)

Khi việc thả rông súc vật gây ra thiệt hại (tai nạn giao thông,...) thì tùy vào mức độ thiệt hại thì mức độ trách nhiệm của chủ sở hữu súc vật, người chiếm hữu, người sử dụng súc vật trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật sẽ có các trách nhiệm khác nhau

2.1 Truy cứu trách nhiệm hình sự 

Trường hợp chủ sở hữu súc vật, người chiếm hữu, người sử dụng súc vật đang trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật không có ý định thả súc vật do mình quản lý ra với mong muốn gây ra những hậu quả về tính mạng, sức khỏe cho người khác mà chỉ là sự vô ý của chủ sở hữu, người quản lý súc vật mới dẫn đến những hậu quả đáng tiếc xảy ra, thì tùy vào mức độ thiệt hại chủ sở hưu súc vật, người quản lý súc vật có thể sẽ phải chịu trách nhiệm như dưới đây: 

  • Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý làm chết người (theo quy định tại Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật sửa đổi bổ sung năm 2017)

Vô ý tức là người thực hiện hành vi tuy đã thấy trước được hành vi mà mình làm có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội tuy nhiên lại cho rằng những hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hậu quả. Hoặc người thực hiện hành vi không thấy trước được hành vi mà mình đã thực hiện có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội mặc dù phải thấy trước được những hậu quả đó. Như đã nêu ở trên, trường hợp chủ sở hữu của súc vật, người chiếm hữu, người sử dụng súc vật đang trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật mà thực hiện hành vi thả rông súc vật ra đường bộ dẫn đến việc gây ra tai nạn dẫn đến hậu quả chết người mà việc gây ra hậu quả này là do sự vô ý do quá cẩu thả của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng súc vật chứ không có chủ đích từ ban đầu thì chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng súc vật sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "Tội vô ý làm chết người" theo quy định tại Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật sửa đổi bổ sung năm 2017 với mức hình phạt: 

- Phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 01 đến 05 năm 

- Đối với những trường hợp phạm tội làm chết 02 người trở lên thì sẽ bị phạt tù từ 03 đến 10 năm 

  • Truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật sửa đổi bổ sung năm 2017

Với hành vi vô ý thả rông súc vật ra đường nhưng hậu quả chưa đến mức chết người mà chỉ gây thương tích, tổn hại đến sức khỏe mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật sửa đổi bổ sung năm 2017 với mức hình phạt như sau: 

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% thì sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 20 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm 

- Đối với trường hợp gây thương tích với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương của mỗi người từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt cải tạo không giam giữ từ 01 năm đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm

- Phạm tội đối với hai người trở lên mà tỷ lệ tổn thương của mỗi người là 61% trở lên thì bị phạt cải tạo không giam giữ 02 năm đến 03 năm phạt tù tù 01 năm đến 03 năm 

Đối với những trường hợp có gây ra tai nạn nhưng mức độ thiệt hại không thuộc các trường hợp được nêu ở hai mục trên thì chủ sở hữu súc vật, người chiếm hữu, người sử dụng súc vật sẽ bị xử phạt hành chính và phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức thiệt hại đã gây ra

2.2 Bồi thường thiệt hại

Điều 603 Bộ luật dân sự năm 2015 đã có quy định chủ sở hữu súc vật, người chiếm hữu, sử dụng súc vật trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật phải có trách nhiệm bồi thường với những thiệt hại mà súc vật gây ra trừ những trường hợp mà các bên có những sự thỏa thuận khác. Nếu việc gây ra thiệt hại mà do lỗi của bên thứ 3 thì bên thứ 3 là bên chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn là lỗi của cả bên thứ 3 và chủ sở hữu thì hai bên liên đới chịu trách nhiệm bồi thường. Mức bồi thường được quy định như sau: 

  • Gây ra thiệt hại đến tính mạng

Mức bồi thường khi gây ra hậu quả đến tính mạng được hướng dẫn theo quy định tại Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 8 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP, cụ thể được xác định: 

- Bồi thường các khoản về chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng sức khỏe cũng như là những khoản thu nhập bị giảm sút hoặc bị mất cho người thiệt hại tính từ thời điểm bị thiệt hại đến khi người bị thiệt hại chết

- Các chi phí hợp lý cho việc mai táng

- Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc nuôi dưỡng (những người này được xác định trước khi người bị thiệt hại chết) 

- Khoản bồi thường tổn thất về mặt tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì bồi thường cho người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị hại. Mức bồi thường đối với khoản tổn thất này sẽ do các bên tự thỏa thuận với nhưng, còn nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa sẽ không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định

  • Thiệt hại về sức khỏe 

Mức bồi thường khi gây ra thiệt hại về sức khỏe được hướng dẫn bởi Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP, cụ thể gồm: 

- Các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất hoặc bị giảm sút của người bị hại

- Các khoản chi phí hợp lý về thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại 

- Các khoản chi phí hợp lý về thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại

- Tiền bù đắp về mặt tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu. Mức bồi thường về mặt tinh thần sẽ do các bên tự thỏa thuận, trường hợp các bên không thỏa thuận được thì mức tối đa sẽ không vượt quá 50 lần mức lương cơ sở

  • Thiệt hại về tài sản 

Mức bồi thường thiệt hại về tài sản khi gây ra thiệt hại về tài sản được hướng dẫn bởi Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 6 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP, cụ thể bao gồm: 

- Bồi thường về các tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng 

- Những khoản lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút

- Các khoản chi phí để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại

Mọi vướng mắc Quý khách hàng có thể liên hệ trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài số: 19006162 để được hỗ trợ trực tiếp. Trân trọng!