Tham ô là hành vi chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, hoặc công dân của người có chức vụ, quyền hạn thành tài sản riêng của mình.

Trong Bộ luật hình sự năm 1999, tham ô là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản do mình quản lí thành tài sản riêng. Chủ thể của hành vì tham ô tài sản thường là những người có trách nhiệm quản lí tài sản. Họ phải là người có chức vụ hoặc được giao quản lí một khối tài sản nhất định. Do đặc thù vị trí công việc, nên họ đã dễ dàng biến tài sản của người khác (cơ quan, tổ chức hoặc của công dân) do mình quản lí (có thể quản lí trực tiếp hoặc gián tiếp) thành tài sản riêng của mình. - Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lí cấu thành tội phạm tham ô khi có một trong các dấu hiệu:

1) Giả trị tài sản bị chiếm đoạt trị giá năm trăm nghìn đồng trở lên;

2) Gây hậu quả nghiêm trọng: là trường hợp hành vi tham ô tài sản có giá trị dưới năm trăm nghìn đồng, đã gây thiệt hại nghiêm trọng khác ngoài giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Ví dụ: cán bộ y tế do chiếm đoạt thuốc chữa bệnh ở vùng đang bị dịch bệnh, do không đủ thuốc nên làm chết người;

3) Đã bị xử lí kỉ luật về hành vi này mà còn vỉ phạm: là trường hợp người phạm tội trước đó đã tham ô tài sản có giá trị dưới năm trăm nghìn đồng và đã bị xử lí bằng một trong các hình thức kỉ luật theo đúng quy định của người có thẩm quyền, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị kỉ luật, nay lại có hành vi tham ô tài sảncó giá trị dưới năm trăm nghìn đồng;

4) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương XXI Bộ luật hình sự năm 1999, chưa được xoá án tích mà còn vì phạm: là trường hợp người phạm tội tham ô tài sản trước khi thực hiện. tội phạm này họ đã phạm một trong các tội được quy định tại các điều từ Điều 279 đến Điều 284 Bộ luật hình sự, họ đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà tiếp tục tham ô tài sản có giá trị dưới năm trăm nghìn đồng.