1. Cơ sở pháp lý
- Thông tư 129/2020/TT-BCA do Bộ Công an ban hành ngày 08/12/2020 quy định quy trình giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân.
- Thông tư 22/2019/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 25/02/2019 quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân.
- Nghị định 31/2019/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 10/4/2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo.
- Luật Tố cáo năm 2018 số 25/2018/QH14 do Quốc hội ban hành ngày 12/6/2018
- Thông tư số 85/2020/TT-BCA do Bộ Công an ban hành ngày 03/8/2020 quy định việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố cáo và quản lý công tác giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân.
2. Thẩm quyền giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân
Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 22/2019/NĐ-CP thì thẩm quyền giải quyết tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong lực lượng Công an nhân dân được phân định rõ ràng theo cấp bậc và quyền hạn của các chức danh trong hệ thống. Dưới đây là mô tả chi tiết về thẩm quyền giải quyết tố cáo tại từng cấp:
- Trưởng Công an cấp xã: Bao gồm Trưởng Công an phường, Trưởng đồn, Trưởng trạm Công an, Trưởng Công an thị trấn, và Trưởng Công an xã. Những cá nhân này có thẩm quyền giải quyết các tố cáo đối với cán bộ và chiến sĩ Công an thuộc quyền quản lý trực tiếp của họ, ngoại trừ các Phó Trưởng Công an cấp xã. Trong trường hợp có tố cáo liên quan đến các cán bộ, chiến sĩ dưới quyền quản lý trực tiếp của họ, Trưởng Công an cấp xã sẽ là người thụ lý và giải quyết.
- Trưởng Công an cấp huyện: Bao gồm Trưởng Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Các chức danh này có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với Trưởng Công an cấp xã, Phó Trưởng Công an cấp xã, cũng như cán bộ, chiến sĩ từ cấp Đội trưởng trở xuống, trừ những trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Trưởng Công an cấp xã. Họ cũng có trách nhiệm giải quyết các tố cáo liên quan đến đơn vị Công an cấp xã và các đội thuộc quyền quản lý trực tiếp của mình.
- Trưởng phòng, Thủ trưởng đơn vị tương đương cấp phòng thuộc Công an cấp tỉnh: Các vị trí này có thẩm quyền giải quyết các tố cáo đối với cán bộ và chiến sĩ từ cấp Đội trưởng và tương đương trở xuống, cũng như các tố cáo liên quan đến đơn vị cấp đội hoặc tương đương cấp đội thuộc quyền quản lý trực tiếp của họ. Điều này bao gồm cả Giám thị trại giam, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, và Trưởng phòng hoặc Thủ trưởng các đơn vị tương đương cấp phòng có con dấu riêng thuộc đơn vị cấp cục và tương đương thuộc cơ quan bộ.
- Giám đốc Công an cấp tỉnh: Giám đốc Công an cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các tố cáo đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, Thủ trưởng, và Phó Thủ trưởng đơn vị tương đương cấp phòng thuộc Công an cấp tỉnh, cũng như Trưởng và Phó Trưởng Công an cấp huyện. Họ cũng xử lý các tố cáo liên quan đến đơn vị Công an cấp huyện, cấp phòng và các đơn vị tương đương mà Công an cấp tỉnh quản lý trực tiếp.
- Cục trưởng và Thủ trưởng đơn vị tương đương cấp cục thuộc cơ quan bộ: Cục trưởng và các Thủ trưởng đơn vị tương đương cấp cục có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với cán bộ giữ chức vụ Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, Thủ trưởng, và Phó Thủ trưởng đơn vị tương đương cấp phòng. Họ cũng giải quyết tố cáo đối với các đơn vị cấp phòng và tương đương cấp phòng thuộc quyền quản lý trực tiếp của mình, cũng như các đơn vị cấp đội hoặc tương đương cấp đội thuộc thẩm quyền của Trưởng phòng hoặc Thủ trưởng đơn vị tương đương cấp phòng nhưng không có con dấu riêng.
- Bộ trưởng: Bộ trưởng có thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với Cục trưởng, Phó Cục trưởng hoặc các chức danh tương đương thuộc cơ quan bộ, Giám đốc và Phó Giám đốc Công an cấp tỉnh, và các cán bộ khác mà Bộ trưởng trực tiếp quản lý (nếu có). Bộ trưởng cũng giải quyết các tố cáo liên quan đến đơn vị Công an cấp tỉnh, cấp cục và các đơn vị tương đương cấp cục.
- Khi hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, chiến sĩ Công an thuộc thẩm quyền quản lý của nhiều cơ quan hoặc đơn vị khác nhau, việc giải quyết tố cáo sẽ được thực hiện theo nguyên tắc phối hợp. Cụ thể:
+ Thủ trưởng cơ quan, đơn vị Công an trực tiếp quản lý cán bộ, chiến sĩ bị tố cáo sẽ là người chủ trì giải quyết tố cáo. Điều này đảm bảo rằng quá trình xử lý sẽ được thực hiện một cách thống nhất và hiệu quả.
+ Các Thủ trưởng cơ quan, đơn vị liên quan phải phối hợp chặt chẽ trong việc giải quyết tố cáo. Sự phối hợp này là cần thiết để đảm bảo mọi khía cạnh của vụ việc được xem xét đầy đủ và công bằng.
- Khi tố cáo liên quan đến cán bộ, chiến sĩ hoặc cơ quan, đơn vị thuộc cơ quan đã trải qua quá trình hợp nhất, sáp nhập, chia, hoặc tách, việc giải quyết tố cáo được phân định như sau:
+ Thủ trưởng cơ quan, đơn vị sau hợp nhất, sáp nhập, chia, tách sẽ chủ trì giải quyết tố cáo đối với cán bộ, chiến sĩ và các cơ quan, đơn vị đã được chuyển giao. Điều này đảm bảo rằng việc giải quyết tố cáo được thực hiện theo cơ cấu tổ chức mới.
+ Các Thủ trưởng cơ quan, đơn vị liên quan sẽ phối hợp giải quyết để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của quá trình xử lý tố cáo.
Trong trường hợp các cơ quan, đơn vị đã bị giải thể, tố cáo sẽ được giải quyết bởi Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý cơ quan, đơn vị Công an trước khi bị giải thể. Việc này đảm bảo rằng các vấn đề pháp lý liên quan đến thời điểm trước khi cơ quan bị giải thể vẫn được xử lý hợp lý.
- Khi cán bộ, chiến sĩ Công an bị tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong thời gian trước đó nhưng hiện đã chuyển công tác hoặc không còn là cán bộ, chiến sĩ Công an, việc giải quyết tố cáo sẽ được thực hiện theo nguyên tắc sau:
+ Trường hợp cán bộ, chiến sĩ chuyển công tác sang cơ quan, đơn vị khác nhưng giữ chức vụ tương đương: Thủ trưởng cơ quan, đơn vị Công an cấp trên trực tiếp của cơ quan, đơn vị nơi cán bộ, chiến sĩ đó công tác tại thời điểm xảy ra hành vi vi phạm sẽ chủ trì giải quyết. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị nơi cán bộ, chiến sĩ hiện tại công tác sẽ phối hợp giải quyết.
+ Trường hợp cán bộ, chiến sĩ chuyển công tác và giữ chức vụ cao hơn: Thủ trưởng cơ quan, đơn vị Công an nơi cán bộ, chiến sĩ hiện tại công tác sẽ chủ trì giải quyết tố cáo. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị nơi cán bộ, chiến sĩ từng công tác tại thời điểm vi phạm sẽ phối hợp.
+ Trường hợp cán bộ, chiến sĩ chuyển công tác và giữ chức vụ Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng: Thủ trưởng cơ quan, đơn vị Công an cấp trên trực tiếp của cơ quan, đơn vị nơi cán bộ, chiến sĩ hiện công tác sẽ chủ trì giải quyết. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị trước đó cũng phải phối hợp giải quyết.
+ Trường hợp cán bộ, chiến sĩ không còn công tác trong Công an nhân dân: Thủ trưởng cơ quan, đơn vị Công an có thẩm quyền giải quyết tố cáo tại thời điểm hành vi vi phạm xảy ra sẽ chủ trì giải quyết. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức liên quan sẽ phối hợp.
- Khi tố cáo liên quan đến cán bộ Công an đang biệt phái công tác tại cơ quan, tổ chức khác ngoài Công an nhân dân:
+ Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trước khi biệt phái: Thủ trưởng cơ quan, đơn vị Công an nơi cán bộ đó công tác tại thời điểm vi phạm sẽ giải quyết. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức nơi cán bộ đó đang biệt phái sẽ phối hợp.
+ Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong thời gian biệt phái: Người đứng đầu cơ quan, tổ chức nơi cán bộ đó đang công tác sẽ giải quyết.
- Những người có thẩm quyền giải quyết tố cáo được quy định tại các điểm 2, 3, 4, 5, và 6 có thể giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cấp dưới khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc không đảm bảo tính khách quan. Căn cứ xác định việc vi phạm nghiêm trọng hoặc không khách quan được quy định theo các nghị định chi tiết về Luật Tố cáo.
3. Quy trình giải quyết tố cáo
Theo quy định tại ĐIều 8 Nghị định 22/2019/NĐ-CP và Điều 10 Thông tư 85/2020/TT-BCA thì quy trình giải quyết tố cáo được quy định như sau:
- Trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân được thực hiện theo các quy định chi tiết tại Điều 8 của Nghị định số 22/2019/NĐ-CP và các quy định khác của Bộ Công an. Những quy định này đảm bảo quy trình giải quyết tố cáo diễn ra một cách chính xác, minh bạch và công bằng, phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành.
- Trong trường hợp người tố cáo quyết định rút tố cáo, việc xử lý sẽ được thực hiện theo các quy định tại Điều 33 của Luật Tố cáo và Điều 4 của Nghị định số 31/2019/NĐ-CP. Cụ thể:
+ Rút toàn bộ tố cáo: Nếu người tố cáo quyết định rút toàn bộ tố cáo, việc giải quyết tố cáo sẽ được thực hiện theo các quy định của Luật Tố cáo về việc xử lý đơn tố cáo đã bị rút.
+ Rút một phần tố cáo: Nếu người tố cáo rút một phần nội dung tố cáo mà phần này không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật Tố cáo, người giải quyết tố cáo sẽ ra thông báo bằng văn bản về việc không tiếp tục giải quyết đối với phần nội dung đã rút và sẽ tiếp tục xử lý các nội dung tố cáo còn lại theo quy định của Luật Tố cáo.
+ Tố cáo từ nhiều người: Trong trường hợp nhiều người cùng tố cáo và một hoặc một số người trong số họ rút tố cáo, nếu phần nội dung tố cáo không thuộc quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật Tố cáo, người giải quyết tố cáo sẽ ra thông báo bằng văn bản chấp nhận việc rút tố cáo của người đó. Đồng thời, người giải quyết tố cáo sẽ tiếp tục xử lý các nội dung tố cáo còn lại theo quy định của Luật Tố cáo.
- Việc xác minh, kết luận và kiến nghị các biện pháp xử lý tố cáo phải tuân thủ các quy định của pháp luật về tố cáo. Quyết định xử lý tố cáo chỉ được ban hành khi có bằng chứng rõ ràng cho thấy người bị tố cáo đã thực hiện hành vi vi phạm và cần áp dụng hình thức kỷ luật hoặc các biện pháp xử lý theo quy định pháp luật. Cụ thể: Thông báo Kết quả: Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết tố cáo bằng văn bản đến người tố cáo, người bị tố cáo, cũng như cơ quan, cá nhân có liên quan. Kết luận nội dung tố cáo và quyết định xử lý (nếu có) phải được công khai theo quy định tại Điều 13 của Nghị định số 22/2019/NĐ-CP.
- Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm thực hiện việc giải quyết tố cáo theo đúng quy định pháp luật. Các trách nhiệm cụ thể bao gồm:
+ Áp dụng Biện pháp Ngăn chặn: Phải áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra do hành vi vi phạm.
+ Bảo đảm An toàn: Đảm bảo an toàn cho người tố cáo và người thân của họ, nhằm bảo vệ quyền lợi và sự an toàn của các cá nhân liên quan.
+ Xử lý Nghiêm Minh: Xử lý nghiêm khắc đối với cơ quan, đơn vị, cán bộ, chiến sĩ Công an, cũng như các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có hành vi vi phạm pháp luật.
+ Chịu Trách Nhiệm: Người giải quyết tố cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định và hành động của mình trong quá trình giải quyết tố cáo.
4. Nguyên tắc giải quyết tố cáo
Theo quy định tại Điều 3 Thông tư 129/2020/TT-BCA thì việc giải quyết tố cáo và áp dụng pháp luật như sau:
- Việc giải quyết tố cáo thông qua hoạt động của Đoàn thanh tra được thực hiện theo các quy định pháp luật hiện hành về thanh tra, cũng như các quy định liên quan khác. Điều này đảm bảo rằng mọi hoạt động thanh tra và giải quyết tố cáo đều được thực hiện theo đúng quy trình pháp lý và đạt được sự chính xác, công bằng trong việc xử lý các khiếu nại.
- Việc giải quyết tố cáo đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân về các hành vi vi phạm phẩm chất đạo đức, quy tắc ứng xử, tiêu chuẩn cán bộ, chiến sĩ Công an, và các quy định khác của Bộ Công an sẽ được thực hiện theo hướng dẫn cụ thể tại Thông tư này. Quy trình giải quyết tố cáo sẽ bám sát các tiêu chuẩn và quy định được đề ra để bảo đảm tính công minh và chính xác trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến hành vi của cán bộ, chiến sĩ.
- Biểu mẫu sử dụng trong giải quyết tố cáo được quy định tại Thông tư này cần phải tuân thủ theo các biểu mẫu đã được quy định trong Thông tư số 60/2014/TT-BCA (hết hiệu lực) ngày 18 tháng 11 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Công an, quy định về biểu mẫu sử dụng trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, và tiếp công dân của Công an nhân dân (gọi tắt là Thông tư số 60/2014/TT-BCA) và Thông tư số 54/2017/TT-BCA (hết hiệu lực) ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Công an, sửa đổi, bổ sung Điều 1 của Thông tư số 60/2014/TT-BCA (gọi tắt là Thông tư số 54/2017/TT-BCA).
Trong trường hợp Thông tư số 60/2014/TT-BCA và Thông tư số 54/2017/TT-BCA bị sửa đổi, bổ sung, hoặc thay thế bằng một thông tư mới của Bộ trưởng Bộ Công an, thì các biểu mẫu sẽ phải được điều chỉnh theo các quy định của thông tư sửa đổi, bổ sung hoặc thông tư thay thế. Thanh tra Bộ Công an có trách nhiệm thông báo kịp thời đến các đơn vị và địa phương Công an về bất kỳ sự thay đổi nào trong quy định biểu mẫu, nhằm đảm bảo rằng tất cả các đơn vị thực hiện việc giải quyết tố cáo theo các quy định pháp lý mới nhất.
Ngoài ra, có thể tham khảo: Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ của người có chức danh, chức vụ trong doanh nghiệp do Nhà nươc nắm giữ 100% vốn điều lệ. Còn khúc mắc, liên hệ 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Xin cảm ơn.